Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam: Khám Phá Di Sản Văn Hóa và Lịch Sử Xứ Tiên

5/5 - (99 bình chọn)

Chỉ đường tới Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam

Chỉ đường tới Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam

Hành trình khám phá vùng đất trung du Quảng Nam sẽ đưa du khách đến một điểm đến giàu truyền thống và lịch sử, nơi hội tụ những giá trị văn hóa độc đáo. Nổi bật giữa bức tranh hùng vĩ ấy là khu vực Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam – một tọa độ quan trọng đánh dấu sự hiện diện của nhiều di tích lịch sử và văn hóa. Bài viết này trên hanoidep.vn sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về các địa danh này, giúp bạn lên kế hoạch cho một lộ trình khám phá đầy ý nghĩa, tìm hiểu về văn hóa xứ Quảng và những câu chuyện về con người, đất nước nơi đây. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu những câu chuyện về quá khứ và sự phát triển của một điểm đến hấp dẫn tại miền Trung.

Tròn Vin, ĐT614 và Vai Trò Kết Nối Di Sản Tiên Phước

Chỉ đường tới Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam: Khám Phá Di Sản Văn Hóa và Lịch Sử Xứ Tiên
Tròn Vin, nằm trên tuyến đường ĐT614 thuộc xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, Quảng Nam, không chỉ là một giao điểm giao thông. Vị trí này đóng vai trò chiến lược, là cửa ngõ dẫn vào lòng đất Tiên Phước. Tuyến ĐT614 là huyết mạch quan trọng, kết nối các xã và cụm di tích. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho du khách di chuyển và tiếp cận các điểm đến văn hóa. Dựa trên dữ liệu từ Google Maps, đây là một tuyến đường chính, dễ dàng tiếp cận bằng ô tô hoặc xe máy, giúp tối ưu hóa hành trình khám phá.

Đình Làng Hội An: Dấu Ấn Văn Hóa Xứ Tiên

Đình làng Hội An, tọa lạc tại thôn Hội An, xã Tiên Châu, là ngôi đình duy nhất còn sót lại ở Tiên Phước. Với niên đại hơn 150 năm, đình mang đậm kiến trúc truyền thống thời Nguyễn. Nơi đây là minh chứng cho quá trình khai khẩn, lập làng của tiền nhân.

Đình làng Hội An gắn liền với tên tuổi Phó bảng Nguyễn Đình Tựu (1828–1888), người có công lớn trong việc xây dựng và phát triển. Ông là một danh sĩ có uy tín, thầy của nhiều bậc hiền tài như Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Duy Hiệu. Đình được xây dựng với sự đóng góp của toàn dân, dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Đình Dương, Chánh tổng Tiên Quý.

Ban đầu, đình làng có năm kiến trúc, bao gồm đình chính, nhà kho, nhà hội họp, nhà Thủ Hộ và nhà thờ Bà Tư. Phía trước đình chính có bức bình phong đá khắc chữ “Phước” lớn bằng sành sứ. Khuôn viên đình được bao bọc bởi tường đá kiên cố, với cổng chính hướng Đông. Cổng khắc đôi câu đối ý nghĩa: “Bá Niên Tố Trứ Thanh Danh Địa, Tứ Diện Hoành Khai Đạo Nghĩa Môn”.

Cổng đá cổ kính dẫn vào Đình làng Hội An, di tích lịch sử nằm tại Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam, mang đậm dấu ấn thời gian.

Trải qua thời gian và chiến tranh, nhiều kiến trúc của đình đã bị hư hại hoặc phá bỏ. Hiện tại, chỉ còn lại hai kiến trúc: đình chính (nhà Tự Hiền) và nhà kho. Cả hai đều đã xuống cấp nhưng vẫn giữ được nét cổ kính. Hằng năm, dân làng tổ chức lễ Kỳ Yên linh đình vào tháng 6 Âm lịch. Lễ hội nhằm cầu mong quốc thái dân an, mùa màng bội thu.

Lễ Kỳ Yên còn là dịp tế Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tiền Bối, Hậu Bối – những người có công khai hoang lập làng. Nghi thức rước sắc, dù sắc phong đã thất lạc, vẫn được duy trì. Sau phần lễ là phần hội sôi động, nơi trai thanh gái tú gặp gỡ, giao lưu. Các hoạt động thi làm bánh, thổi xôi, trưng bày tài nghệ chưng kết hoa quả thể hiện sự khéo léo của dân làng.

Đình làng Hội An là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa đặc trưng của cư dân Tiên Phước. Nó là minh chứng cho lòng tri ân đối với tiền nhân và những đóng góp của họ. Với giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, đình đã được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh vào ngày 21/7/2014. Các hoạt động trùng tu, bảo tồn di tích đang được chính quyền địa phương tích cực triển khai.

Hành Trình Theo Dấu Lịch Sử Cách Mạng và Yêu Nước

Vùng đất Tiên Phước không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là cái nôi của nhiều phong trào cách mạng. Các di tích nơi đây kể về tinh thần quật cường của dân tộc. Chúng gợi nhớ những trang sử bi tráng nhưng hào hùng của xứ sở này.

Lò Chén Phú Lâm: Nơi Sản Xuất và Cơ Sở Bí Mật

Lò Chén Phú Lâm, hình thành năm 1935 tại xã Tiên Sơn, từng là một cơ sở kinh tế bí mật của Xứ ủy Trung Kỳ. Dưới vỏ bọc sản xuất chén bát, lò đã tài trợ cho hoạt động cách mạng. Ông Lê Tuất và Huỳnh Lắm được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở này. Họ mua lại lò chén của ông Tú Quang tại làng Hoà Vang và di chuyển về Hoà Lộc.

Lò chén không chỉ sản xuất mà còn là địa điểm liên lạc quan trọng của tỉnh ủy và xứ ủy. Sản phẩm đầu tiên là bô vệ sinh, sau đó mở rộng sang chén, bát, dĩa. Thị trường tiêu thụ trải dài từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi. Nguồn tài chính thu được dùng để trả lương, tái sản xuất và hỗ trợ các tổ chức cách mạng.

Năm 1940, mật thám Pháp nghi ngờ và tiến hành dò xét. Tuy nhiên, ông Mai, một công nhân biết tiếng Pháp, đã khéo léo đánh lừa địch. Lò chén Phú Lâm duy trì hoạt động cho đến Cách mạng tháng Tám thành công. Sau thời gian dài ngừng hoạt động, lò được phục hồi từ năm 1978 đến 1982. Lúc này, lò do Hợp tác xã nông nghiệp quản lý, sản xuất thêm đồ mỹ nghệ.

Lò chén Phú Lâm là biểu tượng cho sự sáng suốt của Tỉnh ủy và Xứ ủy trong việc duy trì hoạt động cách mạng. Nó là minh chứng cho ý chí kiên cường và lòng yêu nước của người dân. Nơi đây không chỉ bảo tồn nghề làm gốm sứ truyền thống mà còn là nguồn tài chính quan trọng cho kháng chiến.

Trường Tân Học Phú Lâm (Trường Cây Bàn): Khởi Nguồn Duy Tân

Trường Tân Học Phú Lâm, hay còn gọi là Trường cây Bàn, nằm tại xã Tiên Sơn. Di tích này cách trung tâm huyện lỵ 14 km theo đường ĐT614. Sự hình thành và phát triển của trường gắn liền với danh tộc Lê Cơ. Ông là người có tư tưởng cách tân, luôn mong muốn cải cách đất nước.

Năm 1903, ông Lê Cơ nhậm chức Lý trưởng làng Phú Lâm. Ông tin rằng nếu không làm việc lớn cho thiên hạ thì cũng làm đúng trong một làng. Năm 1904, Lê Cơ xin mở tiệm buôn và trường dạy chữ Quốc ngữ. Trường khai giảng dạy nam giới ban ngày, trung niên ban tối. Ngày chủ nhật, mọi người đến nghe diễn thuyết, thơ ca.

Sau đó, nhân dân Phú Lâm lập thêm bốn trường ở bốn phái. Trường phái giữa chuyển sang dạy nữ thanh thiếu niên. Chương trình học đa dạng: Lịch sử, Địa lý, Hát, Vẽ, Toán đố. Thậm chí có cả chương trình Quân sự học đường dưới hình thức thể dục thể thao. Số học sinh của trường, cả nam lẫn nữ, lên đến hơn 100 người.

Kết quả đáng tự hào: đến năm 1908, hơn 650 trong số 850 người từ 14 tuổi trở lên đã đọc thông thạo chữ Quốc ngữ. Tháng 3-4/1908, Lê Cơ cùng những người yêu nước tham gia phong trào chống sưu thuế. Ông bị bắt và kết án tù khổ sai 5 năm. Sau đó, trường Phú Lâm tự giải tán.

Nền Trường Tân học Phú Lâm, một cái nôi giáo dục quan trọng, nay là di tích nằm gần khu vực Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam.

Trường Phú Lâm được xem là trường dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên của phong trào Duy Tân, cũng là nơi đầu tiên mở lớp nữ học. Nền trường có diện tích khoảng 500 m², được xây dựng bằng móng đá tảng và tường đất sét. Trường có kiến trúc nhà dài với mái lợp tranh.

Từ năm 1908 đến đầu thập niên 1940, trường được dùng làm kho chứa thóc. Từ 1945–1954, trường là trụ sở Bệnh viện Tam Dân. Thời Mỹ chiếm đóng, nơi đây là trụ sở làm việc của thôn. Trường Phú Lâm là cái nôi nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và phản kháng.

Nền trường tân học Phú Lâm hôm nayNền trường tân học Phú Lâm hôm nay

Khu Căn Cứ Tỉnh Ủy Quảng Nam: Trái Tim Cách Mạng

Khu căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam tọa lạc trên đồi Ông Giài (thôn 1, xã Tiên Sơn). Nơi đây có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng, bao quát vùng đồng bằng phía Đông. Trong 9 năm chống Pháp, cùng với Tiên Cẩm và Tiên Hà, Tiên Sơn trở thành chiến khu vững chắc.

Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây tiếp tục là căn cứ địa vững chắc của cách mạng khu 5. Chiến dịch giải phóng Sơn – Cẩm – Hà (25/9/1962) và cuộc chiến đấu chống các chiến dịch của địch đã bảo vệ thành công căn cứ. Từ đây, quân ta tiến công xuống giải phóng đồng bằng Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn. Mục tiêu cuối cùng là giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân 1975.

Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích quốc gia vào ngày 8/7/2014. Nó là biểu tượng cho ý chí quật cường của quân và dân Quảng Nam. Nơi đây đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Khu căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam tọa lạc trên đồi ông Giài (thôn 1, xã Tiên Sơn)Khu căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam tọa lạc trên đồi ông Giài (thôn 1, xã Tiên Sơn)

Vụ Thảm Sát Sơn – Cẩm – Hà: Nỗi Đau Và Tinh Thần Bất Khuất

Vụ thảm sát Sơn – Cẩm – Hà là một trong những sự kiện lịch sử bi thương nhất tại Tiên Phước. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm âm mưu độc chiếm miền Nam. Chúng thành lập chính phủ bù nhìn, phá hoại hiệp định.

Xem thêm  Trường Trung cấp nghề Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương: Thông tin tuyển sinh, ngành học và lộ trình sự nghiệp

Ở Quảng Nam, bọn Quốc dân đảng ly khai, lập căn cứ tại vùng núi Tiên Phước, Trà My, Quế Sơn. Khu vực Sơn – Cẩm – Hà trở thành một trong những chiến khu của chúng. Tháng 2/1955, chúng tuyên bố ly khai chính quyền Diệm. Chúng lập “chiến khu Nam Ngãi Bình Kỳ” tại thôn 3 xã Tiên Sơn. Nguyễn Đình Thiệp, Tỉnh ủy viên Quốc dân đảng, làm Tư lệnh.

Âm mưu của chúng là chiếm cứ vùng Bắc Trà My, xây dựng chiến khu dự bị. Chúng dùng chính sách hai mặt: vừa kêu gọi cộng sản hợp tác, vừa bí mật bắt cóc và thủ tiêu cán bộ, đảng viên. Chúng hy vọng lừa bịp nhân dân để dễ dàng nhận diện và tiêu diệt người yêu nước.

Tại Sơn – Cẩm – Hà, cán bộ và đảng viên của ta đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh kiên quyết. Nhân dân đứng lên chống lại bọn Quốc dân đảng, bảo vệ cán bộ và những người yêu nước. Chiêu bài “hợp tác” của chúng thất bại, bộ mặt phản động bị vạch trần.

Bọn Quốc dân đảng lùng sục, bắt cóc và giết hại cán bộ. Chúng dùng nhiều hình thức tra tấn man rợ: uống máu, hiếp dâm, treo cổ, đập đầu, chôn sống. Anh Phan Thệ và Lê Đức bị cắt cổ uống huyết. Em Nguyễn Thị Thuận 14 tuổi bị hiếp dâm rồi chôn dưới rãnh sắn. Bà Quyền ở thôn 4 Tiên Cẩm bị đâm chết cùng con nhỏ.

Trước sự đàn áp dã man, nhân dân Sơn – Cẩm – Hà kề vai sát cánh đấu tranh. Trận chiến quyết liệt của nhân dân thôn 6, Tiên Sơn vào đêm mùng 5 tháng 5 âm lịch là điển hình. Với vũ khí thô sơ, họ chống trả trung đội Quốc dân đảng vũ trang. Kết quả, tên quận phó Nguyễn Cao Chung bỏ mạng, Lê Nghinh bị bắt sống.

Cuối tháng 11, đầu tháng 12/1955, bọn Quốc dân đảng thảm sát man rợ. Chúng bắt 200 người chôn sống tại hầm heo Đồng Trại (thôn 2 xã Tiên Cẩm) và 35 người tại hầm heo Gò Vàng (thôn 4, Tiên Sơn). Chúng trói nạn nhân, đạp xuống hầm, dùng đá nện và lấp đất.

Vụ thảm sát Sơn – Cẩm – Hà là chứng tích tội ác, tố cáo bộ mặt tàn bạo của Mỹ – Diệm. Hơn 330 đồng bào chết và bị thương. Sự kiện này phơi bày tội ác tày trời của Mỹ – Ngụy. Từ cuộc đấu tranh này, ý chí cách mạng kiên cường của nhân dân bùng lên mạnh mẽ.

Một góc di tích thảm sát Sơn - Cẩm - HàMột góc di tích thảm sát Sơn – Cẩm – Hà

Chiến Thắng Núi Ngang: “Đỉnh Thép Kiên Cường”

Sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ – Ngụy chuyển chiến lược sang “quét giữ”. Chúng mở nhiều cuộc hành quân lớn vào Tiên Phước. Núi Ngang trở thành cao điểm chiến lược, chốt chặn bảo vệ Chi khu quân sự Tiên Phước.

Đầu tháng 4/1968, quân Mỹ mở các cuộc hành quân vào vùng giải phóng phía Tây các huyện Quảng Nam. Sau đó, chúng để lại một đại đội bộ binh, một đại đội pháo binh 105 ly tại núi Ngang. Hai đại đội bộ binh khác thường xuyên càn quét bên ngoài.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh khu V giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 31, Sư đoàn 2 đánh phá căn cứ Mỹ. Thời gian chuẩn bị khẩn trương. Ngày 4/5/1968, phương án tác chiến hoàn tất. Ta bố trí 9 chốt liên hoàn trên các đỉnh núi xung quanh.

Đêm 4/5/1968, lực lượng ta tập kích núi Ngang nhưng phải rút lui do bị lộ. Sáng 5/5/1968, tiểu đoàn 8 và 9 nổ súng bắn trực diện vào núi Ngang. Pháo cối 82 và DKZ 75 phá hủy nhiều lô cốt địch. Quân Mỹ kêu cứu viện, dùng máy bay HU1A bắn phá dữ dội. Ta kiên cường bám trận địa, bắn rơi 2 máy bay.

Địch tiếp tục oanh kích, đổ quân dù xuống thôn 3, thôn 5 xã Tiên Sơn. Trong 3 ngày, từ 5/5 đến 8/5/1968, vùng trời núi Ngang không ngớt tiếng bom đạn. Quân Mỹ tấn công các chốt của ta nhưng đều thất bại. Nhân dân Sơn – Cẩm – Hà kiên cường bám trụ, tiếp tế lương thực, thuốc men.

Bị thất bại nặng nề, Lữ đoàn 198 của Mỹ điều động thêm tiểu đoàn và tăng cường pháo 105 ly. Ngày 14/5, Mỹ cố đánh chiếm dốc Xoài. Cuộc chiến ác liệt gây nhiều thương vong. Tuy nhiên, với tinh thần “còn người, còn vũ khí, còn chiến đấu”, bộ đội ta chặn được tiến công của địch.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm của Trung đoàn 31, quân và dân Sơn – Cẩm – Hà được Đại hội Sư đoàn tháng 11/1968 ghi nhận. Họ được tặng danh hiệu “Đỉnh thép kiên cường, đánh giỏi thắng lớn”. Thắng lợi này làm quân Mỹ hoang mang, tinh thần chiến đấu giảm sút.

Sau 38 ngày đêm chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.700 tên địch. Ta diệt gọn 5 đại đội, tiêu hao 14 đại đội khác, bắn rơi khoảng 65 máy bay. Chiến thắng Núi Ngang thể hiện tinh thần mưu trí, dũng cảm của bộ đội. Nó thể hiện tình đoàn kết quân dân, bảo vệ quê hương.

Thắng lợi này góp phần giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Tiên Phước, Thăng Bình, Quế Sơn. Nó giúp đưa dân trở về làng cũ. Chiến thắng Núi Ngang cùng cả nước đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Nó tạo ra cục diện và thế chiến lược mới có lợi cho ta.

Chiến Thắng Tiên Phước – Phước Lâm: Khởi Đầu Mùa Xuân 1975

Để phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, tháng 3/1975, Khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở chiến dịch Nam – Ngãi (10-3-1975 – 25-3-1975). Trận tiến công quận lỵ Tiên Phước – Phước Lâm và Suối Đá được xác định là trận then chốt. Chỉ huy chiến dịch là đồng chí Nguyễn Chánh (Bình) và Đoàn Khuê.

Trận tiến công bắt đầu vào 04 giờ 30 phút ngày 10/3/1975. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn 2 (4 trung đoàn), Lữ đoàn 52, Trung đoàn pháo binh 368, Trung đoàn cao xạ 573. Ngoài ra còn có 10 xe tăng, xe bọc thép của Trung đoàn 574, Trung đoàn công binh 83 và một đại đội vệ binh Quân khu. Lực lượng vũ trang ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà cùng phối hợp.

Sau một ngày chiến đấu, đến 16 giờ cùng ngày, ta hoàn toàn làm chủ quận lỵ Tiên Phước – Phước Lâm và dãy điểm cao Suối Đá. Ta diệt 1.011 quân, bắt 991 tên, thu 779 súng các loại. Ta giải phóng 20.000 dân.

Trận Tiên Phước – Phước Lầm – Suối Đá trong Chiến dịch Nam-Ngãi Xuân 1975Trận Tiên Phước – Phước Lầm – Suối Đá trong Chiến dịch Nam-Ngãi Xuân 1975

Thắng lợi của trận Tiên Phước – Phước Lâm – Suối Đá là chiến thắng đầu tiên của quân và dân Khu V trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Nó để lại nhiều bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ngày 13/8/2021, UBND tỉnh Quảng Nam đã xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho di tích chiến thắng này.

Công Binh Xưởng QB 150 Khu V: Cánh Tay Tiếp Viện Tiền Tuyến

Công binh xưởng Quân binh 150 khu V từng đóng ở bốn địa điểm khác nhau tại Tiên Phước. Từ 1947–1949, xưởng đóng tại Hố Đá (thôn 1 xã Tiên Cảnh). Năm 1949, chuyển ra Cà Táng (thôn 1) rồi đến làng Lộc Yên (thôn 4). Năm 1950, xưởng chuyển đến Nà Lá (Rừng Lớn, thôn 2 Tiên Cảnh) và hoạt động đến hết kháng chiến.

Sau khi Pháp quay lại xâm lược, hàng vạn đồng bào tản cư lên Tiên Phước. Nơi đây trở thành căn cứ địa của tỉnh, với các trại sản xuất, xưởng giấy, hóa chất, bệnh viện. Công binh xưởng QB 150 có đóng góp to lớn cho chiến trường Liên khu V.

Những tháng đầu năm 1947, Công binh xưởng QB 150 chuyển về Hồ Đá, là một cơ sở quốc phòng lớn với hơn 300 công nhân. Quảng đốc là đồng chí Đỗ Kim Cẩn. Xưởng chuyên sản xuất lựu đạn, sửa chữa súng, chế tạo đạn súng trường. Vị trí hiểm trở giúp xưởng tránh được sự phát hiện của địch.

Năm 1949, để thuận tiện vận chuyển, xưởng chuyển ra Lộc Yên. Đồng chí Đỗ Kim Cẩn chế tạo máy dập chốt đạn, được tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Xưởng sản xuất thêm đạn súng Canuasinua, Mouscaton. Đặc biệt, xưởng tận dụng phân Dơi từ Hang Dơi (Tiên An) để chế tạo thuốc nổ. Điều này có ý nghĩa lớn, hạn chế vận chuyển nguyên liệu.

Do nguy cơ bại lộ, xưởng chuyển đến một địa điểm khác ở Lộc Yên (thôn 4 Tiên Cảnh). Quản đốc lúc này là đồng chí Trần Tuyển Hồ. Các nhà xưởng được làm ngầm dưới đất để tránh máy bay địch. Tuy nhiên, địch vẫn thả bom Napan, buộc xưởng phải di chuyển.

Năm 1950, xưởng chuyển đến Nà Lá (thôn 2 Tiên Cảnh). Nơi đây tiếp tục sản xuất vũ khí, đạn dược cho toàn chiến trường Quân khu V. Nó góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Công binh xưởng QB 150 chuyển ra Bắc.

Công binh xưởng QB 150 là cơ sở quốc phòng lớn, có vai trò rất quan trọng. Nó cung cấp đạn dược cho toàn chiến trường Khu V. Nơi đây góp phần to lớn vào thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Hình ảnh Công binh xưởng Quân binh 150 Khu VHình ảnh Công binh xưởng Quân binh 150 Khu V

Cuộc Đấu Tranh Cây Cốc: Tố Cáo Tội Ác Mỹ – Diệm

Cuộc đấu tranh Cây Cốc tại xã Tiên Thọ là chứng tích tội ác của Mỹ – Diệm. Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định không bắt bớ khủng bố nhân dân. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên vi phạm. Ngày 27/9/1954, lính tiểu đoàn 601 bắt đồng chí Nguyễn Thông (Liêm).

Đồng bào trong xóm kéo đến khoảng 30 người đòi thả anh Liêm. Chúng cài cửa không cho vào. Đồng bào càng căm tức, vận động mọi người tham gia đấu tranh. Họ vây quanh nhà tên Ngô Ngọc Hường, leo rào la hét. Trước khí thế này, chúng buộc phải thả anh Liêm.

Sáng hôm sau, chúng lại bắt anh Liêm cùng một số đồng chí khác. Đồng bào lại tập trung đấu tranh đòi địch tuân thủ Hiệp định Giơ-ne-vơ. Huyện ủy tổ chức họp, đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm các vụ đấu tranh trước đó. Chủ trương của Đảng là đấu tranh có lý, có tình, có chừng mực.

Huyện ủy cử đồng chí Nguyễn Thành (Hào), Đỗ Ngọc Luyện, Hồ Cột vận động quần chúng giải tán. Nhiều cán bộ, đảng viên khác được phân công đón các ngả đường để giải thích. Từ lòng căm thù giặc, sáng 01/10/1954, quần chúng các xã Tiên Phong, Tiên Mỹ, Tiên Kỳ, Tiên Thọ, Tiên Lập kéo về chợ Cây Cốc.

Tiếng trống, mõ, khẩu hiệu náo động các ngả đường, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh. Đồng bào các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ cũng nhập cuộc, làm lực lượng biểu tình ngày càng đông. Địch ở Cây Cốc cấp báo cho đồng bọn ở Tam Kỳ chi viện.

Xem thêm  Đình Thần Bình Quới Tây, 32/5 Bình Quới, Phường 28, Bình Thạnh: Cẩm Nang Khám Phá Nét Văn Hóa Tâm Linh Giữa Lòng Sài Gòn

Chúng nổ súng đàn áp đồng bào tay không tấc sắt, máu đổ loang mặt đường. Lòng căm thù địch càng rực cháy. Đồng chí Bùi Phụng, cán bộ Huyện đội Tiên Phước, dũng cảm vác tấm ván xông tới cản đường đạn. Anh vật lộn với địch và bị bắn chết. Ông Trần Ngọc Hoàng dẫn đầu đội biểu tình Tiên Kỳ cũng bị bắn chết.

Bọn chúng dùng xe tăng, lựu đạn cay, súng máy đàn áp. Hơn 330 đồng bào đã chết và bị thương. Kẻ địch muốn cướp xác để phi tang tội ác. Nhưng đồng bào ta cương quyết bảo vệ thi thể để tố cáo. Ba ngày sau, địch cưỡng bức dùng xe bò chở tử thi và người bị thương nặng. Chúng đổ xuống các hầm trú ẩn quanh chợ Cây Cốc.

Chúng còn lùng sục, tàn sát người bị thương, thủ tiêu nhân chứng. Anh Đặng Soạn bị bắt hai ngày rồi bắn chết, chôn cạnh nhà tên Ngô Ngọc Hường. Điều này nhằm xóa sạch tội ác Mỹ – Diệm.

Cuộc đấu tranh Cây Cốc là chứng tích tội ác, tố cáo bộ mặt tàn bạo của Mỹ – Diệm. Hơn 330 đồng bào bị chết và bị thương. Sự kiện này phơi bày tội ác tày trời của Mỹ – Ngụy. Từ đây, ý chí cách mạng kiên cường của nhân dân ta bùng lên mạnh mẽ.

Sáng 27/9/2019, huyện Tiên Phước tổ chức Lễ tưởng niệm 65 năm. Nơi đây cũng đón Bằng công nhận Di tích lịch sử quốc gia “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954”.

Những Danh Nhân và Di Tích Văn Hóa Khác của Tiên Phước

Tiên Phước còn là quê hương của nhiều danh nhân và di tích văn hóa độc đáo. Những nơi này góp phần làm phong phú thêm bức tranh lịch sử và văn hóa địa phương. Từ ngôi làng cổ kính đến những bãi đá tự nhiên, mỗi điểm đến đều mang một câu chuyện riêng.

Nhà Lưu Niệm Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Kiến Trúc Lá Mái Độc Đáo

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng là di tích văn hóa cấp quốc gia. Nơi đây thuộc xã Tiên Cảnh, cách thị xã Tam Kỳ khoảng 35 km về phía Tây. Ngôi nhà cũ được thân sinh cụ Huỳnh xây dựng từ năm 1869. Nó mang kiến trúc nhà lá mái (nhà bỏ đất) phổ biến dưới thời nhà Nguyễn.

Ngôi nhà gồm ba gian, mái ngói, khung sườn gỗ với những đường nét chạm trổ tinh xảo. Cụ Huỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ sống tại làng Thạnh Bình. Ngôi nhà gỗ mái tranh, vách đất phù hợp với khí hậu vùng trung du xứ Quảng. Mùa đông ấm, mùa hạ mát.

Chính không gian sống này là nơi cụ Huỳnh trau dồi kinh sử. Nơi đây hun đúc tinh thần hiếu học. Cụ là đại diện xuất sắc cho nhân sĩ kiệt hiệt hết lòng vì nước, thương dân.

Ngôi nhà có kiến trúc dân gian xứ Quảng theo kiểu chữ nhất. Nó do thợ làng Thạnh Bình xây dựng và thợ làng mộc Kim Bồng (Hội An) chạm khắc. Nhà chính kiểu nhà 8 cái (3 gian, 2 chái). Cấu kiện gỗ được phân chia theo kết cấu kèo đỡ đòn tay kiểu kẻ chuyền.

Ba bộ cửa chính bố trí ở ba gian, mỗi bộ gồm bốn cánh. Cổng nhà làm bằng tre. Ban đầu, đây là ngôi nhà rường bằng gỗ, mái lợp tranh. Các kiến trúc cổ ở làng Lộc Yên trước năm 1940 đều có mái lợp tranh. Cụ Nguyễn Huỳnh Anh kể nhà có hai tầng mái: mái dưới đắp đất, mái trên lợp tranh.

Lối vào nhà cụ HuỳnhLối vào nhà cụ Huỳnh

Kiểu kiến trúc nhà lá mái phổ biến ở Tiên Phước trước năm 1940. Tường làm từ thân tre đan, phủ đất sét trộn rơm, quét vôi. Tường nhà nối liền mạch với phần mái đất dày 15-20cm, có tác dụng chống cháy. Phần mái đất được đỡ bởi giàn tre hoặc gỗ.

Ngày xưa, người dân sáng tạo kiến trúc chống cháy, chống nóng, chống bão hữu hiệu. Lần trùng tu thứ nhất năm 1932 đã thay mái tranh bằng ngói. Ngôi nhà của thân sinh cụ Huỳnh được làm bởi phường thợ mộc Văn Hà. Họ tạo dáng thanh trính/tránh với nhiều đường gấp.

Ngôi nhà ngang được bố trí thẳng góc với nhà chính, nối bằng nhà cầu. Mái nhà cầu và nhà chính có máng xối hứng nước mưa. Đầu xối chạm trổ hình đầu cá lớn. Nhà ngang xây kiểu xuyên lạng, nền đất, lợp tranh, cửa hình lá quạt.

Một góc Cổng nhà Cụ Huỳnh Thúc Kháng, mang đậm kiến trúc truyền thống vùng Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam.

Với mặt bằng sinh hoạt, ngăn lồi bên phải là nơi cụ Huỳnh làm việc, bên trái là nơi gia đình ăn cơm. Cửa ra vào chính ở ba gian và ô hoa thông gió cho tường phía trước. Kiến trúc nhà lưu niệm cụ Huỳnh thuộc loại nhà lá mái phổ biến.

Bản công nhận di tích lịch sử văn hóa, khẳng định giá trị của các điểm đến tại Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam.

Làng Cổ Lộc Yên: Vẻ Đẹp Đá và Kiến Trúc Rường Cổ

Làng cổ Lộc Yên, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tọa lạc trong một thung lũng tuyệt đẹp. Nơi đây được bao bọc bởi sông Đá Giăng, suối An Sơn, đồi Đá Ràn Dàn, núi Bàn Mây. Con đường duy nhất dẫn vào làng quanh co giữa thung lũng. Làng có vẻ đẹp độc đáo với những ngôi nhà cổ, ngõ tường, giếng nước hàng trăm năm tuổi xếp bằng đá.

Từ năm 2017, UBND tỉnh Quảng Nam đã triển khai Đề án “Phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, du lịch sinh thái”. Làng cổ Lộc Yên được chọn làm vùng lõi để phát triển du lịch sinh thái.

Bảng thông tin di tích làng cổ Lộc YênBảng thông tin di tích làng cổ Lộc Yên

Làng Lộc Yên bảo tồn được 8 ngôi nhà cổ niên đại từ 80 đến 150 năm. Chúng được xây dựng bởi thợ mộc làng Văn Hà, với kiến trúc nhà lá mái và nhà rường truyền thống. Các cấu kiện gỗ được gia công, chạm trổ hoa văn thảo mộc, chim, thú tinh tế. Ngôi nhà của cụ Nguyễn Huỳnh Anh là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu.

Những ngôi nhà nằm rải rác trong làng, ẩn mình dưới tán lá cây lưu niên. Chúng hòa mình vào cảnh quan tự nhiên của đồi, gò, sông, suối, ruộng bậc thang. Giá trị kiến trúc được nâng cao bởi sự tồn tại trong không gian văn hóa nguyên bản.

Ngõ đá và nhà cổ tại Làng cổ Lộc Yên, một di sản kiến trúc độc đáo thuộc Tiên Cảnh, Quảng Nam, gần với Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu.

Với giá trị sinh thái và văn hóa độc đáo, Lộc Yên thu hút nhiều khách tham quan, nhà khoa học, văn nghệ sĩ. Đây là tín hiệu đáng mừng cho du lịch. Ngày 6/9/2019, Làng cổ Lộc Yên được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia. Lộc Yên vinh dự là một trong bốn làng cổ ở Việt Nam được công nhận di tích cấp quốc gia.

Vẻ đẹp bình yên của Làng cổ Lộc Yên, với những ngôi nhà ẩn mình dưới tán cây xanh tươi, mang đậm nét đặc trưng của vùng Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam.

Cảnh quan thiên nhiên tại làng cổ Lộc YênCảnh quan thiên nhiên tại làng cổ Lộc Yên

Danh Thắng Bãi Đá Lò Thung: Thiên Nhiên Hữu Tình

Danh thắng Lò Thung cách trung tâm huyện Tiên Phước khoảng 4km về phía Tây. Nó nằm trong bán kính du lịch của làng cổ Lộc Yên, thuộc xã Tiên Cảnh và Tiên Lộc. Lò Thung là bãi đá trải rộng và kéo dài hơn 2km trên sông Đá Giăng. Lòng sông chủ yếu là đá, được kiến tạo thành nhiều kiểu thức độc đáo.

Qua hàng nghìn năm, dưới tác động của điều kiện tự nhiên và dòng chảy, đá đã tạo nên những hình thù kỳ thú. Lò Thung có cảnh quan thiên nhiên hữu tình, nguyên sơ. Hai bên bờ sông là những doi cát, sỏi trải dài, cây cỏ xanh tốt. Lòng sông là nơi sinh sống của nhiều loài động vật.

Bãi đá Lò Thung huyền ảo, một danh thắng tự nhiên đặc sắc của Tiên Phước, Quảng Nam, là điểm đến không thể bỏ qua khi du lịch quanh Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu.

Lò Thung còn gắn với truyền thuyết về vị khổng lồ đã từng tồn tại. Những dấu vết khắc họa trên đá kể lại câu chuyện ấy. Ngày 9/8/2021, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành quyết định số 2255. Nơi đây được xếp hạng di tích danh thắng cấp tỉnh.

Nghĩa Trũng Nghĩa Hội Quảng Nam: Biểu Tượng Lòng Yêu Nước

Di tích Nghĩa Trũng – Nghĩa Hội Quảng Nam tọa lạc tại làng Tiên Phú Tây (nay là thôn 1 Tiên Mỹ). Nghĩa Hội Quảng Nam tồn tại ngắn ngủi nhưng hoạt động mạnh mẽ. Nó biểu thị lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, khát khao độc lập cuối thế kỷ XIX. Nơi đây là niềm tự hào của nhân dân Tiên Phước và cả nước.

Nghĩa trũng là nơi an nghỉ của các nghĩa sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước. Nó là chứng tích về một thời kỳ lịch sử bi hùng nhưng oanh liệt. Đó là sự xả thân của những người con yêu nước dưới cờ kháng Pháp đầu tiên trên đất Quảng Nam.

Năm 1858, Pháp xâm lược nước ta. Triều đình Nhà Nguyễn ươn hèn, trở thành con rối của thực dân. Các hòa ước ký kết năm 1883, 1884 cho thấy sự nhu nhược, thỏa hiệp. Nhân dân nhiều nơi vùng lên đấu tranh. Các cuộc khởi nghĩa tác động mạnh mẽ đến phái chủ chiến trong triều.

Tôn Thất Thuyết cùng các sĩ phu âm thầm xây dựng căn cứ chống Pháp. Họ mở đường “Thượng đạo”, xây dựng hệ thống đồn Sơn Phòng dọc Trường Sơn. Ngày 22/5/Ất Dậu, cuộc tấn công vào Tòa Khâm Pháp thất bại. Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở, hạ chiếu Cần Vương.

Cựu tiểu phủ sứ Nha Sơn Phòng Phường Xá, Trần Văn Dư, hưởng ứng chiếu Cần Vương. Ông cùng các sĩ phu yêu nước kết làm Nghĩa Hội. Họ lập căn cứ kháng chiến khắp nơi. Sơn Phòng Dương Yên được xem là trung tâm chỉ huy thứ hai sau Tân Sở. Trần Văn Dư đặt đại bản doanh của Nghĩa Hội tại đây.

Ông phát đi bản thông đạt kêu gọi sĩ phu, văn thân, nhân dân khởi binh kháng địch. Hưởng ứng lời hiệu triệu, nhân dân Quảng Nam nói chung, Hà Đông nói riêng ủng hộ nghĩa hội. Cuối năm 1885, tình hình bất lợi cho Nghĩa Hội. Pháp tấn công các căn cứ. Trần Văn Dư giao quyền chỉ huy cho Nguyễn Duy Hiệu.

Nghĩa binh rút về Trung Lộc (Quế Sơn) kiện toàn lực lượng. Hội trưởng Trần Văn Dư về Huế chọn giải pháp ôn hòa. Tuy nhiên, trên đường về Huế, ông bị giặc ám hại.

Di tích Nghĩa Trũng Nghĩa Hội hiện nay ở xã Tiên MỹDi tích Nghĩa Trũng Nghĩa Hội hiện nay ở xã Tiên Mỹ

Tháng 1/1886, Nguyễn Duy Hiệu dời đại bản doanh đến làng Thanh Lâm (thôn 10 xã Tiên Thọ). Ông muốn xây dựng nơi đây thành căn cứ kháng chiến lâu dài. Gò Lòn, Gò Chay (xã Đức Tân, nay thuộc Tiên Thọ) được dùng làm trường trừng trị bọn do thám. Nhân dân hưởng ứng hịch của Nguyễn Duy Hiệu, thực hiện vườn không nhà trống.

Xem thêm  82 Tân Ấp Phúc Xá Ba Đình | 82 P. Tân Ấp: Tìm Đường, Vị Trí, Quán Ăn

Nam giới tham gia đội hương dũng quân, đoàn kết quân chống Pháp. Cao điểm Dương Đế nằm giáp ranh Tiên Phong và Tam Phước, án ngữ mặt trận Đông Bắc Hà Đông. Nơi đây có 200 nghĩa quân dưới quyền Phan Văn Bình, sau đó do Nguyễn Hàm chỉ huy. Cao điểm Dốc Miếu (nay thuộc Tiên Thọ) là nơi đóng đồn của nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu.

Cao điểm Bầu Ông Trấn (nay thuộc Tiên Lộc) có đồn lũy do 150 nghĩa quân trấn giữ. Tán lý Lê Vĩnh Huy chỉ huy. Ngày 29/1/1886, binh lính Pháp do Henri de Berhair chỉ huy tấn công các căn cứ Nghĩa Hội. Quân địch lọt vào trận địa bố trí sẵn (suối đá hiện nay). Nghĩa quân bẫy đá lăn xuống, nã súng tới tấp, rồi xông ra đánh giáp lá cà.

Ta tiêu diệt 150 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác. Địch tổn thất nặng, phải rút chạy về Tam Kỳ. Tháng 3/1886, Công sứ Pháp tại Đà Nẵng tấn công Nghĩa Hội lần hai. Các Tán Lý cho lực lượng về phòng thủ tại Đại An (nay là Tiên Cảnh). Nguyễn Duy Hiệu cho quân rải khắp bờ sông Tiên dụ giặc qua sông.

Tuy nhiên, tương quan lực lượng không cân xứng. Tổ chức Nghĩa Hội còn lỏng lẻo, vũ khí thô sơ. Các chốt Dương Đế và Đức Tân rơi vào tay giặc. Tại chốt Dốc Miếu, 8 chiến sĩ Nghĩa hội bị địch giết hại. Ông Dương Bộc, Hồ Nghiễm, Phạm Hữu Minh vận động dân chúng an táng thi hài. Hai trong số các nghĩa sĩ được thân nhân nhận về mai táng.

Theo hướng dẫn của Nguyễn Đình Tựu, các ông Bộc, Nghiễm, Minh mang 6 thi hài còn lại về mai táng trên Gò Cao. Mộ hướng về Sơn Phòng Dương Yên, cổ súy tinh thần đấu tranh. Họ cất nhà tụ kề bên để thờ tự. Ông Đoàn Lang, người trong nghĩa hội, nhận phần chăm nom hương khói.

Nghĩa Trũng đã được trùng tuNghĩa Trũng đã được trùng tu

Cuối năm 1886, Pháp tăng cường càn quét. Nghĩa quân tan rã. Nhiều người bị bắt bớ, tra tấn, tù đày. Năm nghĩa sĩ bị kết án tử hình, hành quyết tại Nà Tuần (nay thuộc Tiên Mỹ). Nhân dân tìm cách đem thi hài về an táng. Ba thi hài bị mất xác, dân chúng mang hai thi thể còn lại về Nghĩa Trũng.

Hình ảnh một góc Nghĩa Trũng, một nơi linh thiêng tưởng nhớ các anh hùng, tọa lạc tại Tiên Phước, Quảng Nam, thuộc khu vực Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu.

Mộ Danh Nhân Lê Vĩnh Khanh: Tấm Gương Thanh Liêm

Mộ Danh nhân Lê Vĩnh Khanh tọa lạc tại vùng Thạnh Bình (nay là thôn 02 xã Tiên Cảnh). Từ thị trấn Tiên Kỳ, theo đường ĐT616 khoảng 6 km đến ngã ba Cụ Huỳnh, rẽ trái. Đi theo đường đất lên Tiên An khoảng 3 km, rẽ trái đến cánh đồng Đồng Hỏa. Từ đây, đi theo bờ ruộng lên đồi Rừng Lớn khoảng 30 m là đến di tích. Di tích cách thị trấn Tiên Kỳ 8 km về hướng Đông Bắc.

Lê Vĩnh Khanh hiệu Tử Minh, sinh năm 1819 tại làng Thạnh Bình. Ông đậu Giải nguyên khoa Quý Mão 1843, đậu Phó bảng khoa Giáp Thìn 1844 lúc 25 tuổi. Ông được bổ sung Hàn lâm viện kiểm thảo, tri huyện Phù Cát (Bình Định). Khi làm quan, ông rất thương dân, nổi tiếng thanh liêm. Do đó, ông bị đồng liêu ghen ghét, đố kỵ.

Ngày mùng 02 tháng Giêng năm Giáp Thân 1884, ông bị bệnh và mất. Linh cữu được an táng tại Phù Cát, sau đó gia đình di dời về cải táng tại quê nhà.

Mộ cụ Lê Vĩnh Khanh hôm nayMộ cụ Lê Vĩnh Khanh hôm nay

Mộ Lê Vĩnh Khanh nằm dưới chân đồi Rừng Lớn. Phần chính mộ hướng về phía Bắc. Phía trước là cánh đồng ruộng lúa Đồng Hỏa. Đông, Tây, Nam giáp Rừng Lớn. Mộ là một vòng đá xếp chồng lên nhau, diện tích khoảng 28 m². Phần mộ đắp ụ đất nhô cao hình elip, diện tích khoảng 7 m². Bên ngoài là những lớp đá xếp thành bậc thang. Đầu và cuối mộ đặt hai tảng đá phẳng làm bia.

Lê Vĩnh Khanh là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học. Ông là bậc đại khoa không màng công danh, yêu nước thương dân. Ông chỉ mưu cầu độc lập, dân quyền. Ông muốn nhân dân no ấm, thoát khỏi sưu cao thuế nặng của chế độ phong kiến.

Mộ Lê Vĩnh Huy: Chí Sĩ Yêu Nước Cận Đại

Lê Vĩnh Huy tên thật Lê Ngọc Cung, thường gọi Ban Tuyến hay Tán Hai, tự Vĩnh Huy. Ông sinh năm 1850 tại làng Thạnh Bình (nay là thôn 2, xã Tiên Cảnh). Ông là con trai thứ hai của danh sĩ Lê Vĩnh Khanh.

Lê Vĩnh Huy là nhà nho nổi tiếng, chí sĩ yêu nước. Ông có tư tưởng cách tân, phê phán luật lệ hà khắc của phong kiến. Ông khẳng khái, có cái nhìn sâu rộng về thời cuộc. Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ông chiến đấu hăng hái dưới cờ Nghĩa hội.

Sau khi Nguyễn Duy Hiệu dời đại bản doanh đến Nà Lầu (thôn 10 xã Tiên Thọ), Lê Vĩnh Huy chỉ huy 150 nghĩa quân. Họ đóng đồn lũy tại cao điểm Bàu Ông Trấn để bảo vệ đại bản doanh. Ông đóng góp nhiều thành tích trong trận Nà Lầu, Suối Đá, Dốc Miếu. Trong trận Trà Kiệu ngày 7/2/1886, ông cùng Nguyễn Duy Hiệu đem 800 quân bao vây bọn loạn quân.

Cuối năm 1887, Nghĩa hội bị tấn công dữ dội và giải tán. Lê Vĩnh Huy lui về ẩn náu tại quê nhà. Ông nhận chức Chánh Tổng Tiên Giang để có điều kiện cho hoạt động cứu nước mới.

.jpg)
Mộ Cụ Lê Vĩnh Huy, một danh nhân ái quốc, nằm ở Tiên Cảnh, một trong nhiều di tích lịch sử gần Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam.

Từ năm 1905–1908, ông cùng Nguyễn Thành (Tiểu La) tích cực với phong trào Duy Tân. Ông ám trợ xuất sắc cho phái Đông Du của Phan Bội Châu. Ông là Trưởng ban lo việc đưa người du học sang Nhật. Ông hiến nửa số tiền bán quế, hồ tiêu trong vườn gửi sang Nhật cho du học sinh.

Năm 1908, phong trào sưu thuế nổ ra. Lê Vĩnh Huy là một trong những người lãnh đạo tại Hà Đông, bị thực dân Pháp kết án khổ sai 5 năm. Ra tù, ông lại có mặt trong hàng ngũ vận động khởi nghĩa. Ông nhanh chóng trở thành nhân vật trọng yếu của phong trào tại hai tổng Tiên Giang và Phước Lợi.

Vụ phá phủ Tam Kỳ ngày 3/5/1916 không thành. Giặc tịch biên gia sản, vây lùng Lê Vĩnh Huy. Sau 25 ngày trong núi, ông bị bắt cùng bạn chiến đấu. Sống trong cảnh lao tù, do già yếu, bệnh nặng, ông mất ngày 28 tháng Giêng năm Bính Thìn (1916). Ông hưởng thọ 64 tuổi. Gia đình đem linh cữu về an táng tại quê nhà.

Mộ cụ Lê Vĩnh Huy tọa lạc tại làng Thạnh Bình (nay là thôn 2, xã Tiên Cảnh). Mộ vẫn còn là mộ đất, nằm dưới chân đồi phía Nam đồi Rừng Lớn. Phần chính diện hướng về phía nam, phía trước là ruộng lúa. Bắc, Đông, Tây đều giáp đồi Rừng Lớn. Mộ là một vòng tròn xếp bằng đá chồng lên nhau, diện tích khoảng 23 m². Phần nấm mộ là ụ đất hình elip nhô cao.

Mộ Trần Huỳnh: Tổng Lãnh Binh Khởi Nghĩa Duy Tân

Trần Huỳnh, thường gọi Phó Bẻn, sinh ngày 29/5/1858 tại xã An Tây (nay thuộc xã Tiên Thọ). Ông là người có uy tín tại địa phương, từng tham gia phong trào Cần Vương và tiếp thu chủ thuyết Duy Tân.

Từ 1905–1908, ông tiến hành cải cách làng mình. Ông lập trường Tân Học dạy chữ Quốc ngữ tên là Trường Tân Xuân. Ông còn lập trường Dục Thanh dạy võ dân tộc cho thanh niên. Cùng thời gian này, Trần Huỳnh nhân danh Lí Trưởng xây dựng chợ Cây Cốc lớn nhất Hà Đông. Nhờ các hoạt động này, dân trí và dân khí được nâng cao.

Từ 1912, các yếu nhân tại Quảng Nam tập trung quanh Thái Phiên vận động khởi nghĩa. Mục tiêu là đánh đổ thực dân Pháp và lật đổ quân chủ chuyên chế. Cuộc vận động lan ra toàn Trung Kỳ, thu hút cả vua Duy Tân. Phong trào phát triển mạnh nhất ở Quảng Nam.

Cuối năm 1915, không khí chuẩn bị khởi nghĩa khẩn trương. Các hoạt động lập đội nghĩa binh, lạc quyên tiền bạc, rèn sắm vũ khí diễn ra sôi nổi. Phong trào phát triển mạnh ở hầu hết các tổng. Đặc biệt, ở tổng Phước Lợi, Trần Huỳnh tham gia tích cực. Tháng 7/1915, Ban Chỉ huy khởi nghĩa Tổng Phước Lợi thành lập, Trần Huỳnh làm Tổng lãnh binh.

Năm 1916, công việc tổ chức càng khẩn trương. Ngoài đóng góp hội viên, Hội tổ chức tập kích gia đình giàu có để tịch thu tiền lúa. Lúc này, Trần Huỳnh làm Phó Tổng. Ông mượn đình làng làm kho chứa lúa dưới hình thức lúa của ông và chia cho người nghèo.

Mộ Tổng lãnh binh Trần HuỳnhMộ Tổng lãnh binh Trần Huỳnh

Ngày 3/5/1916, gần 1000 dân binh tập trung về căn cứ Gò Chùa (Gò Đỏ). Lễ khao quân tiến hành tại nhà Trần Huỳnh. Mọi người uống rượu hòa huyết bò gọi là rượu thề phục quốc. Sau đó, lễ tế cờ xuất quân tại đám ruộng cạn. Trần Huỳnh đọc tuyên cáo rồi hạ lệnh xuất quân.

Đại quân do Trần Huỳnh chỉ huy tiến về phủ đường Tam Kỳ. Họ giải thoát lính tập, thu ấn tín, thiêu hủy giấy tờ, hạ cờ giặc, treo cờ khởi nghĩa. Nhận tin, công sứ và Tổng đốc phái trung đội Âu Phi đàn áp. Trần Huỳnh, Trầm Tùng Lâm, Trần Khuê, Ngô Đốc cùng nhiều người khác bị bắt.

Trong lao, Trần Huỳnh khẳng khái nhận hết trách nhiệm, an ủi bạn chiến đấu. Ngày 27/5/1916, Tòa Nam Án Quảng Nam xử riêng những người phá phủ Tam Kỳ. Trần Huỳnh bị tuyên án đi đày biệt xứ Buôn Ma Thuột. Ngày 3/6/1916, ông bị xử chém tại Chợ Củi (Vĩnh Điện). Ông bước ra pháp trường hiên ngang, hô vang “Giòng giống Hồng Lạc thiên thu, Việt Nam vạn tuế”.

Sau khi bị giặc giết, Trần Huỳnh được gia đình cải táng tại quê nhà. Mộ tọa lạc tại thôn 3, xã Tiên Thọ, dưới đồi Dương, sau chùa Thọ Quang. Mộ được ông Trần Ngọc Chương cùng gia tộc xây lại tháng 6/1996. Phần mộ xây có diện tích khoảng 42m². Phần chính mộ nhô cao, dài 2 m, rộng 1 m. Phía trên là tượng bán thân Trần Huỳnh bằng đá. Phía sau là bia lớn bằng xi măng đính 4 chữ “Vì nước hy sinh”. Phía trước là văn bia khắc chữ Hán và Quốc ngữ.

Kết Nối và Khám Phá Tiên Phước

Khu vực Tròn Vin, ĐT614, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam là một điểm nút quan trọng để khám phá các di sản văn hóa và lịch sử phong phú của vùng đất Tiên Phước. Từ những câu chuyện về lò chén bí mật, trường học duy tân, đến những chiến công hào hùng và sự hy sinh cao cả, mỗi di tích đều góp phần tạo nên bức tranh đa chiều về tinh thần bất khuất của người dân nơi đây. Việc tìm hiểu và bảo tồn những giá trị này không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của thế hệ hôm nay.

Ngày Cập Nhật: Tháng 12 20, 2025 by Ngô Hồng Thái

Avatar photo
Ngô Hồng Thái

Ngô Hồng Thái từng có hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành báo chí truyền thống. Chính nền tảng này đã rèn luyện cho anh một con mắt quan sát tinh tế, khả năng phát hiện những câu chuyện bình dị nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc sống. Anh không chỉ là một nhiếp ảnh gia bấm máy mà còn là một nhà báo kể chuyện bằng ngôn ngữ.

Bài viết: 27941

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *