Vùng đất Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam từ lâu đã nổi tiếng với bề dày lịch sử và kho tàng di sản văn hóa phong phú, thu hút du khách và nhà nghiên cứu. Nơi đây không chỉ là cái nôi của những làng cổ kính, di tích cách mạng mà còn chứng kiến sự hình thành của những cơ sở kinh tế mang ý nghĩa chiến lược như Tạp Hoá Tuất Toà, hay chính là Lò Chén Phú Lâm. Bài viết này sẽ dẫn dắt quý độc giả khám phá những câu chuyện lịch sử, văn hóa độc đáo, cùng những dấu ấn thời gian đậm nét tại vùng đất Quảng Nam giàu truyền thống này, góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững. Chúng tôi sẽ đi sâu vào các di tích lịch sử và những giá trị văn hóa địa phương làm nên bản sắc Tiên Phước.
Lò Chén Phú Lâm: Nơi Khởi Nguồn Tạp Hoá Tuất Toà và Hoạt Động Cách Mạng
Chỉ đường tới Lò Chén Phú Lâm, Tiên Sơn, Tiên Phước, Quảng NamLò chén Phú Lâm, một địa danh quan trọng thuộc xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1935. Ban đầu, lò chén mang tên tiếng Pháp “Fab – rication Anamite Porcelène Par Hoà Lộc”. Tên gọi này được dùng để che mắt thực dân Pháp, biến lò chén thành một cơ sở kinh tài bí mật của xứ ủy Trung Kỳ.
Ông Lê Tuất và Huỳnh Lắm, hai đồng chí được giao nhiệm vụ quan trọng, đã mua lại lò chén của ông Tú Quang (Đỗ Quang) ở làng Hoà Vang. Sau đó, họ chuyển về Hoà Lộc, cách thị trấn Việt An khoảng 06 km. Lò chén Phú Lâm không chỉ sản xuất gốm sứ mà còn là địa điểm liên lạc chiến lược giữa tỉnh ủy và xứ ủy.
Lò chén hoạt động trong hai giai đoạn chính: từ 1935 đến 1945, phục vụ kháng chiến chống Pháp, và từ 1978 đến 1982, trong giai đoạn hòa bình xây dựng đất nước. Sản phẩm đầu tiên là bô vệ sinh, do ông Lê Văn Hiến thiết kế, được các bệnh viện tiêu thụ mạnh. Để mở rộng thị trường, ông Lê Tuất đã đi Lái Thiêu 8 tháng để nghiên cứu và phát triển thêm các mặt hàng chén, bát, dĩa.
Mỗi tháng, lò sản xuất từ 10 đến 15 ngàn sản phẩm, cung cấp cho thị trường từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi. Nguồn tài chính thu về được dùng để trả lương nhân công, tái sản xuất và hỗ trợ tích cực cho các tổ chức hoạt động bí mật của xứ ủy. Theo định kỳ, cán bộ xứ ủy như ông Trương Văn An và bà Phan Thị Nễ thường đến đây nhận tài chính.
Đến năm 1940, mật thám Pháp bắt đầu nghi ngờ. Một tốp lính khố xanh dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp đã đến Phú Lâm dò xét. Ông Mai, một công nhân của lò chén biết tiếng Pháp, đã khéo léo đánh lừa chúng, giúp lò chén tiếp tục hoạt động an toàn. Cơ sở Lò chén Phú Lâm vẫn tồn tại cho đến Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau đó, lò ngừng hoạt động một thời gian dài.
Di tích lịch sử Tạp Hoá Tuất Toà, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam
Sau năm 1975, chính quyền địa phương xã Tiên Sơn đã phục hồi lò chén, giao cho Hợp tác xã nông nghiệp quản lý, dưới sự điều hành của ông Nguyễn Xuân Mai. Giai đoạn này, 40 công nhân tham gia sản xuất. Ngoài chén bát truyền thống, lò còn sản xuất đồ trang trí mỹ nghệ. Lò chén Phú Lâm hoạt động thêm 4 năm (1978-1982) rồi ngừng để tìm hướng sản xuất mới phù hợp với sự chuyển đổi mô hình kinh tế. Lò chén Phú Lâm, hay có thể coi là Tạp Hoá Tuất Toà, không chỉ bảo tồn nghề gốm sứ mà còn là biểu tượng của tinh thần yêu nước và sự chỉ đạo tài tình của Đảng.
Dấu Ấn Lịch Sử Tại Tiên Cảnh, Tiên Phước: Từ Nghĩa Trũng Đến Làng Cổ
Vùng đất Tiên Phước, đặc biệt là các xã như Tiên Cảnh và Tiên Sơn, lưu giữ nhiều di tích lịch sử quan trọng, ghi dấu một thời kỳ bi hùng nhưng oanh liệt của dân tộc. Những địa điểm này không chỉ là chứng tích của quá khứ mà còn là niềm tự hào của người dân địa phương.
Di tích Nghĩa Trũng – Nghĩa Hội Quảng Nam: Biểu Tượng Lòng Yêu Nước
Di tích Nghĩa Trũng – Nghĩa Hội Quảng Nam nằm trong một thung lũng thuộc làng Tiên Phú Tây, nay là thôn 1 Tiên Mỹ, Tiên Phước, Quảng Nam. Nghĩa hội Quảng Nam, dù tồn tại trong thời gian ngắn, đã thể hiện lòng yêu nước và khát khao độc lập tự chủ của nhân dân ta vào cuối thế kỷ XIX. Nơi đây là nơi an nghỉ của các nghĩa sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược, triều đình Nhà Nguyễn nhu nhược. Các hòa ước ký kết năm 1883, 1884 càng bộc lộ sự thỏa hiệp, bán nước của triều đình. Nhân dân nhiều nơi vùng lên đấu tranh, tác động mạnh mẽ đến phái chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết.
Ông đã âm thầm xây dựng căn cứ chống Pháp, mở đường “Thượng đạo” và hệ thống đồn Sơn Phòng. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi năm 1885, Trần Văn Dư cùng sĩ phu yêu nước lập Nghĩa Hội, đặt đại bản doanh tại Sơn Phòng Dương Yên. Ông kêu gọi các tầng lớp nhân dân khởi binh kháng địch.
Cuối năm 1885, tình hình bất lợi, Trần Văn Dư giao quyền chỉ huy cho Nguyễn Duy Hiệu. Nghĩa binh rút về Trung Lộc củng cố lực lượng. Trên đường về Huế, Trần Văn Dư bị ám hại.
Di tích Nghĩa Trũng – Nghĩa Hội Quảng Nam, biểu tượng lòng yêu nước tại Tiên Phước
Tháng 01 năm 1886, Nguyễn Duy Hiệu dời đại bản doanh đến làng Thanh Lâm (thôn 10 xã Tiên Thọ). Nhân dân hưởng ứng, nam giới tham gia các đội hương dũng quân. Cao điểm Dương Đế và Dốc Miếu trở thành chốt giữ quan trọng. Tháng 01 năm 1886, quân Pháp tấn công, bị nghĩa quân đánh bại, tiêu diệt 150 tên.
Tháng 3 năm 1886, Pháp tấn công lần hai. Do tương quan lực lượng không cân xứng, các chốt Dương Đế và Đức Tân rơi vào tay giặc. Tại chốt Dốc Miếu, 8 chiến sĩ hy sinh. Các ông Dương Bộc, Hồ Nghiễm, Phạm Hữu Minh đã vận động dân chúng an táng 6 thi hài còn lại trên Gò Cao, dưới chân Non Gạch. Một nhà tụ được cất để thờ tự, ông Đoàn Lang chăm nom hương khói.
Cuối năm 1886, Pháp tăng cường tấn công, Nghĩa hội tan rã. Nhiều nghĩa sĩ bị bắt, tra tấn, tù đày. 5 nghĩa sĩ bị kết án tử hình tại Nà Tuần (Tiên Mỹ). Sau xử án, dân làng tìm cách an táng nhưng 3 thi hài đã mất. 2 thi thể còn lại được an táng tại Nghĩa Trũng. Di tích này là lời nhắc nhở về sự hy sinh cao cả của những người con yêu nước tại Tiên Phước.
Di tích Nghĩa Trũng Nghĩa Hội được trùng tu ở Tiên Mỹ, Tiên Phước, Quảng Nam
Cổng vào Nghĩa Trũng đã trùng tu, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam
Toàn cảnh khu vực Nghĩa Trũng với cây xanh, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam
Nhà Lưu Niệm Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Kiến Trúc Cổ Xứ Quảng
Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng là di tích văn hóa cấp quốc gia, tọa lạc tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước. Ngôi nhà cách thị xã Tam Kỳ khoảng 35 km về phía Tây. Đây là ngôi nhà cũ do thân sinh cụ Huỳnh xây dựng từ năm 1869, theo kiến trúc nhà lá mái phổ biến dưới thời nhà Nguyễn.
Ngôi nhà gồm 3 gian, mái ngói, khung sườn gỗ với những đường nét chạm trổ tinh xảo. Ban đầu, nhà có mái lợp tranh, vách đất. Vật liệu xây dựng được khai thác tại chỗ như mít, tre, đất đá, tạo nên kiến trúc phù hợp khí hậu vùng trung du. Nơi đây là không gian lý tưởng để cụ Huỳnh trau dồi kinh sử, hun đúc tinh thần hiếu học.
Nhà chính được làm theo kiểu thức nhà 8 cái (3 gian, 2 chái), với 8 cột cái phân chia đều ở 4 dãy hàng cột. Tất cả được phân chia theo kết cấu kèo đỡ đòn tay kiểu kẻ chuyền. Nhà có 3 bộ cửa bàn khoa ở ba gian và ô hoa thông gió ở tường phía trước. Cổng nhà làm bằng tre, giữ nét giản dị và mộc mạc của làng quê.
Thông qua khảo tả và các lần trùng tu, có thể thấy ban đầu đây là ngôi nhà rường bằng vật liệu gỗ. Phần mái lợp tranh được làm hai tầng: mái dưới đắp đất trên sàn gỗ, mái trên bằng khung tre lợp tranh. Lớp đất dày 15-20cm có tác dụng chống cháy, chống nóng và chống bão hiệu quả. Kiểu kiến trúc nhà lá mái này rất phổ biến ở Tiên Phước trước những năm 1940.
Lối vào nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại Tiên Cảnh, Tiên Phước
Tường nhà được làm từ thân tre đan, phủ bên ngoài bằng hỗn hợp đất sét trộn rơm, quét vôi. Tường và mái đất nối liền mạch, chống cháy triệt để. Các chi tiết kiến trúc độc đáo này thể hiện sự sáng tạo và khéo léo của người dân địa phương. Ngôi nhà không chỉ là nơi sinh sống mà còn là chứng nhân cho một thời kỳ lịch sử quan trọng.
Ngôi nhà ngang được bố trí thẳng góc với nhà chính, nối bằng nhà cầu. Phần mái của nhà cầu và nhà chính có máng xối hứng nước mưa, đầu xối chạm trổ hình đầu cá lớn. Nhà ngang được xây theo kiểu xuyên lạng, có buồng, nền đất, lợp tranh, cửa hình lá quạt đơn sơ. Những đặc điểm này làm nên giá trị văn hóa, kiến trúc của di tích.
Cổng nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng, di tích quan trọng ở Tiên Phước, Quảng Nam
Bản công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Tiên Cảnh
Làng Cổ Lộc Yên: Vẻ Đẹp Thiên Nhiên và Di Sản Kiến Trúc
Làng cổ Lộc Yên, thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, là một viên ngọc ẩn mình trong thung lũng. Làng được bao bọc bởi sông, suối, núi như sông Đá Giăng, suối An Sơn, đồi Đá Ràn Dàn, núi Bàn Mây. Con đường duy nhất dẫn vào làng uốn lượn giữa thung lũng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo.
Lộc Yên nổi bật với những ngôi nhà cổ, ngõ tường và giếng nước hàng trăm năm tuổi được xếp bằng đá. Từ năm 2017, UBND tỉnh Quảng Nam đã chọn Lộc Yên làm vùng lõi để triển khai Đề án “Phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, du lịch sinh thái mang đặc trưng của vùng trung du xứ Quảng”. Mục tiêu là phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Tại Lộc Yên, nhân dân còn bảo tồn được 8 ngôi nhà cổ có niên đại từ 80 đến 150 năm. Những ngôi nhà này được xây dựng bởi thợ mộc làng Văn Hà, với kiến trúc truyền thống nhà lá mái và nhà rường. Các cấu kiện gỗ được gia công, chạm trổ hoa văn thảo mộc, chim, thú rất tinh tế.
Một trong số đó là ngôi nhà của cụ Nguyễn Huỳnh Anh, một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu. Những ngôi nhà nằm rải rác trong làng, ẩn mình dưới tán lá rợp mát của vườn cây lưu niên. Chúng hòa mình vào cảnh quan tự nhiên của đồi, gò, sông, suối, ruộng bậc thang.
Bảng chỉ dẫn di tích làng cổ Lộc Yên, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam
Với giá trị sinh thái và văn hóa độc đáo, làng cổ Lộc Yên đã thu hút rất nhiều khách tham quan, nhà khoa học và văn nghệ sĩ đến nghiên cứu, sáng tác. Đây là tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển du lịch trong tương lai. Ngày 6/9/2019, Làng cổ Lộc Yên đã được Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia. Lộc Yên vinh dự là một trong 4 làng cổ ở Việt Nam được công nhận di tích cấp quốc gia, khẳng định giá trị vượt trội của mình.
Ngõ đá và nhà cổ truyền thống tại làng cổ Lộc Yên, Tiên Cảnh
Khung cảnh những ngôi nhà cổ ẩn mình dưới tán cây xanh tại làng Lộc Yên, Tiên Phước
Cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc cổ truyền độc đáo của làng Lộc Yên, Tiên Cảnh
Danh Thắng Bãi Đá Lò Thung: Nét Đẹp Hoang Sơ Giữa Lòng Sông Đá Giăng
Danh thắng Lò Thung cách trung tâm huyện Tiên Phước khoảng 4km về phía Tây, nằm trong bán kính du lịch của làng cổ Lộc Yên. Lò Thung là bãi đá trải rộng và kéo dài hơn 2km trên sông Đá Giăng. Lòng sông chủ yếu là đá, được kiến tạo thành nhiều kiểu thức độc đáo.
Qua hàng nghìn năm, tác động của tự nhiên và dòng chảy đã tạo nên những hình thù kỳ thú trên đá. Cảnh quan thiên nhiên Lò Thung hữu tình, nguyên sơ. Hai bên bờ sông là những doi cát, sỏi trải dài, cùng hệ thực vật xanh tốt. Lòng sông là nơi sinh sống của nhiều loài động vật thủy sinh.
Lò Thung còn gắn với truyền thuyết về vị khổng lồ đã từng tồn tại, sinh sống qua những dấu vết khắc họa trên đá. Những truyền thuyết này làm tăng thêm vẻ huyền bí và sức hút cho danh thắng.
Vào ngày 9/8/2021, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành quyết định số 2255, xếp hạng Lò Thung là di tích danh thắng cấp tỉnh. Di tích này thuộc xã Tiên Cảnh và Tiên Lộc, khẳng định giá trị tự nhiên và văn hóa đặc biệt của khu vực.
Hào Khí Cách Mạng và Những Danh Nhân Vùng Đất Tiên Phước
Vùng đất Tiên Phước còn là nơi sản sinh và gắn bó với nhiều danh nhân, chí sĩ yêu nước, cùng những di tích ghi dấu các cuộc đấu tranh kiên cường. Những câu chuyện về họ đã làm nên hào khí, tinh thần bất khuất của người dân nơi đây.
Đình Làng Hội An: Nơi Hội Tụ Văn Hóa và Tình Đồng Bào
Đình làng Hội An, tọa lạc tại thôn Hội An, xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, Quảng Nam, có niên đại hơn 150 năm. Đây là ngôi đình duy nhất còn lại trên địa bàn huyện Tiên Phước, mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc.
Đình làng gắn liền với tên tuổi Phó bảng Nguyễn Đình Tựu (1828–1888), người đã theo chân tiền hiền Nguyễn Phúc đến khai khẩn làng Hội An. Ông đỗ Phó Bảng khoa Giáp Tý (1864), từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Tu Soạn, Thị giảng học sĩ, Đốc học Quảng Nam. Nhiều sĩ phu yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Duy Hiệu đều là học trò của ông.
Nguyễn Đình Tựu là người có công đầu trong việc xây dựng Đình làng Hội An. Ông mong muốn tri ân các bậc tiền nhân đã có công khai hoang lập làng. Công tác xây dựng đình do ông Nguyễn Đình Dương, Chánh tổng Tiên Quí, cùng cộng sự triển khai. Việc đóng góp được thực hiện trong toàn dân, tùy theo gia cảnh.
Sau một năm chuẩn bị vật liệu, đình được khởi công. Phần mộc do nghệ nhân phường Văn Hà (Tam Thành, Phú Ninh) đảm nhiệm, cùng với thợ giỏi trong làng. Hơn hai năm sau, ngôi đình hoàn thiện. Ban đầu, không gian đình gồm 5 kiến trúc: nhà Tự (đình chính), nhà kho, nhà hội họp, nhà Thủ Hộ và nhà thờ Bà Tư.
Phía trước đình chính có bức bình phong xây bằng đá núi, vữa vôi, khắc chữ Ÿ (Phước) lớn bằng mảnh sành sứ. Khuôn viên đình được xây tường kiên cố bằng đá, vữa vôi đường, có cổng đi vào từ hướng Đông. Hai bên cổng khắc hai câu liễn lớn mang ý nghĩa sâu sắc về thanh danh và đạo nghĩa của vùng đất.
Trải qua hàng chục năm chiến tranh và tác động xã hội, các kiến trúc của đình làng dần hư hại. Hiện nay, đình còn lại hai kiến trúc: Chính diện là ngôi nhà Tự Hiền và nhà kho kế bên. Hai kiến trúc này đã xuống cấp nhưng vẫn giữ được nét cổ kính.
Hằng năm, dân làng tổ chức lễ rước sắc và cúng tế linh đình vào dịp lễ Kỳ Yên (tháng 6 ÂL). Lễ kéo dài từ một ngày rưỡi đến ba ngày, cầu mong “Phong điều vũ thuận” và “Quốc thái dân an”. Đây cũng là dịp tế Tiền Hiền – Hậu Hiền. Sau phần lễ, phần hội sôi động với các hoạt động trưng bày tài nghệ, thi làm bánh, thổi xôi, tạo không khí giao lưu, gặp gỡ.
Hơn 150 năm qua, Đình làng Hội An là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa đặc trưng của cư dân Tiên Phước. Đây là nơi người dân thể hiện lòng tri ân đối với bậc tiền nhân có công khai hoang lập làng. Với những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, chính quyền địa phương đã khoanh vùng bảo vệ, huy động nguồn lực trùng tu.
Các hạng mục như tường rào bảo vệ, cảnh quan khuôn viên và hai kiến trúc còn lại đã được tu bổ, cải tạo. Điều này nhằm khắc phục tình trạng xuống cấp và nghiêm cấm mọi sự tác động tiêu cực. Hoạt động cộng đồng dần được phục hồi, tạo nên không khí sống động vốn có. Ngày 21-7-2014, UBND tỉnh Quảng Nam đã công nhận Đình làng Hội An là di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh.
Khuôn viên Đình làng Hội An được trùng tu, Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam
Mộ Danh Nhân Lê Vĩnh Khanh: Giải Nguyên Thanh Liêm
Mộ Danh nhân Lê Vĩnh Khanh tọa lạc tại vùng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông xưa, nay là thôn 02 xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Di tích cách thị trấn Tiên Kỳ khoảng 8 km về hướng Đông Bắc.
Lê Vĩnh Khanh, hiệu là Tử Minh, sinh năm 1819 tại làng Thạnh Bình. Ông đỗ Giải nguyên khoa Quý Mão năm 1843 và Phó bảng khoa Giáp Thìn năm 1844 khi mới 25 tuổi. Ông được bổ nhiệm chức Hàn lâm viện kiểm thảo, rồi tri huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Khi làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm, thương dân.
Chính vì sự thanh liêm này, ông thường bị đồng liêu ghen ghét, đố kỵ. Ngày mùng 02 tháng Giêng năm Giáp Thân 1884, ông lâm bệnh và qua đời. Linh cữu của ông được an táng tại huyện Phù Cát, sau đó gia đình di dời về cải táng tại quê nhà.
Mộ Lê Vĩnh Khanh nằm dưới chân đồi Rừng Lớn. Phần chính mộ hướng về phía Bắc, phía trước là cánh đồng ruộng lúa Đồng Hỏa. Mộ là một vòng đá xếp chồng lên nhau, diện tích khoảng 28 m2. Phần mộ đắp bằng ụ đất hình êlíp, diện tích khoảng 7 m2. Bên ngoài mộ là những lớp đá xếp thành bậc thang. Đầu và cuối mộ đặt hai tảng đá phẳng làm bia.
Mộ cụ Lê Vĩnh Khanh, danh sĩ yêu nước tại Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam
Lê Vĩnh Khanh là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học, ham hiểu biết của người dân xứ Quảng. Ông là bậc đại khoa không màng công danh, một lòng yêu nước thương dân. Ông khao khát độc lập, dân quyền, muốn nhân dân no ấm, thoát khỏi sưu cao thuế nặng của chế độ phong kiến đương thời.
Trường Tân Học Phú Lâm: Cái Nôi Duy Tân
Trường Tân học Phú Lâm, còn gọi là Trường Cây Bàn, nằm giữa làng Phú Lâm, nay là xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước. Di tích cách trung tâm huyện lỵ 14 km theo đường ĐT 614. Sự hình thành và ảnh hưởng của trường gắn liền với tên tuổi Lê Cơ.
Lê Cơ sinh ngày 22/2/1859 trong một gia đình danh tộc ở làng Phú Lâm. Ông học hành chu đáo, nhưng không theo con đường khoa cử truyền thống mà tham gia các hoạt động yêu nước. Năm 1903, ông nhận chức Lý trưởng làng Phú Lâm với tâm niệm “Nếu không làm được việc lớn cho thiên hạ thì cũng làm đúng trong một làng”. Ông sớm tham gia phong trào Duy Tân.
Sau khi nắm quyền, Lê Cơ bắt tay vào công cuộc cải cách. Ngày 25/01/1904, ông đệ đơn xin mở tiệm buôn tạp hóa và trường dạy chữ Quốc ngữ. Được phê chuẩn, ông hô hào nhân dân đóng góp xây dựng trường học ở giữa làng. Ngày 30/4/1904, trường Quốc ngữ khai giảng. Ban ngày dạy thanh niên, tối dạy trung niên, chủ nhật diễn thuyết, nói thơ, vè.
Sau đó, nhân dân Phú Lâm còn lập thêm bốn trường ở bốn phái dạy nam giới học chữ Quốc ngữ. Trường phái giữa chuyển sang dạy nữ thanh thiếu niên. Chương trình học gồm Lịch sử, Địa lý, Hát, Vẽ, Toán đố, thậm chí cả Quân sự học đường dưới hình thức thể dục thể thao. Trường có hơn 100 học sinh cả nam và nữ.
Kết quả đáng tự hào: đến năm 1908, trong khoảng 1200 dân xã, có hơn 650 người từ 14 tuổi trở lên đọc thông thạo chữ Quốc ngữ. Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1908, hưởng ứng phong trào đòi giảm sưu thuế, Lê Cơ cùng những người yêu nước dẫn đầu nhân dân chống sưu thuế bao vây phủ đường Tam Kỳ.
Nền trường Tân Học Phú Lâm, dấu tích phong trào Duy Tân ở Tiên Sơn, Tiên Phước
Sáng ngày 04/4/1908, Lê Cơ cùng các lãnh đạo khác bị bắt và kết án tù khổ sai 5 năm tại nhà lao Hội An. Trường Phú Lâm sau đó tự giải tán. Trường Phú Lâm được xem là trường dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên của phong trào Duy Tân và cũng là nơi đầu tiên lập lớp nữ học, như Huỳnh Thúc Kháng đã xác nhận.
Trường Phú Lâm tọa lạc trên lô đất khoảng 500 m2. Nền trường dựng móng bằng đá tảng, nện đất sét. Tường dựng bằng phênh tre trắt đất sét. Trường kiểu nhà dài, 4 cột cái đặt trên đá tảng, mái lợp tranh. Phía trước có sân rộng làm nơi tụ tập môn sinh.
Từ khi tự giải tán (1908) đến những năm 1940, trường Phú Lâm được dùng làm nhà kho. Từ 1945–1954, trường trở thành trụ sở Bệnh viện Tam Dân. Thời Mỹ chiếm đóng, trường là trụ sở làm việc của thôn. Trường Phú Lâm là cái nôi nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, phản kháng quật cường.
Toàn cảnh nền trường Tân Học Phú Lâm, nơi khởi nguồn trí thức tại Tiên Sơn, Tiên Phước
Mộ Lê Vĩnh Huy: Chí Sĩ Yêu Nước và Tư Tưởng Cách Tân
Lê Vĩnh Huy, tên thật là Lê Ngọc Cung, thường gọi là Ban Tuyến hay Tán Hai, tự Vĩnh Huy. Ông sinh năm 1850 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Hà Đông, nay là thôn 2, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước. Ông là con trai thứ hai của danh sĩ yêu nước Lê Vĩnh Khanh.
Lê Vĩnh Huy là nhà nho nổi tiếng, chí sĩ yêu nước, có tư tưởng cách tân. Ông phê phán và chống lại luật lệ, tập tục hà khắc của chế độ phong kiến. Ông có cái nhìn sâu rộng về thời cuộc. Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ông hăng hái chiến đấu dưới cờ Nghĩa hội do Trần Dư và Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo.
Sau khi Nguyễn Duy Hiệu dời đại bản doanh đến Nà Lầu, Lê Vĩnh Huy chỉ huy 150 nghĩa quân đóng đồn lũy tại cao điểm Bàu Ông Trấn để bảo vệ đại bản doanh. Ông có nhiều thành tích trong trận Nà Lầu, Suối Đá, Dốc Miếu. Trong trận Trà Kiệu ngày 7/2/1886, ông cùng Nguyễn Duy Hiệu và Hồ Đức Học đem 800 quân bao vây bọn loạn quân, tiêu diệt tên cầm đầu.
Cuối năm 1887, Nghĩa hội tan rã, Lê Vĩnh Huy ẩn náu tại quê nhà. Lúc này, ông nhận chức Chánh Tổng Tiên Giang để có điều kiện thuận lợi cho những hoạt động cứu nước mới. Từ 1905–1908, ông tích cực với phong trào Duy Tân, đồng thời ám trợ xuất sắc cho phái Đông Du của Phan Bội Châu.
Ông là Trưởng ban lo việc đưa người du học sang Nhật, hiến nửa số tiền bán quế, hồ tiêu trong vườn gửi sang Nhật cho du học sinh. Em trai Lê Ngọc Liên, hai con Lê Ngọc Quyền và Lê Thúc Duyên, cùng cháu Lê Liễu cũng được ông cho đi du học.
Năm 1908, phong trào sưu thuế nổ ra, Lê Vĩnh Huy là một trong những người lãnh đạo tại huyện Hà Đông. Ông bị thực dân Pháp kết án khổ sai 5 năm tại nhà lao Hội An. Ra tù, ông lại có mặt trong hàng ngũ những người vận động khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Thái Phiên. Ông nhanh chóng trở thành nhân vật trọng yếu của phong trào tại hai tổng Tiên Giang và Phước Lợi.
Vụ phá phủ Tam Kỳ ngày 3/5/1916 không thành, giặc tịch biên gia sản và vây lùng ông suốt 25 ngày trong núi mới bắt được. Sống trong cảnh lao tù, do già yếu, bệnh nặng, ông mất vào ngày 28 tháng Giêng năm Bính Thìn (1916), hưởng thọ 64 tuổi. Gia đình đã đưa linh cửu ông về an táng tại quê nhà.
.jpg)
Mộ cụ Lê Vĩnh Huy tọa lạc ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, nay là thôn 2, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam. Mộ hiện vẫn còn là mộ đất, nằm ở chân đồi phía Nam đồi Rừng Lớn. Phần chính diện của mộ hướng về phía Nam. Mộ là một vòng tròn xếp bằng đá chồng lên nhau, diện tích khoảng 23 m2. Phần nấm mộ là ụ đất hình êlíp nhô cao, diện tích khoảng 3.5m2. Phía trên và dưới nấm mộ có đặt 2 tấm bia đá. Bên ngoài mộ là những bậc thang xếp bằng đá tảng.
Mộ Trần Huỳnh: Tổng Lãnh Binh Khởi Nghĩa Duy Tân
Trần Huỳnh, thường gọi là Phó Bẻn, sinh ngày 29/5/1858 tại xã An Tây, Tổng Đức Hào Trung, huyện Hà Đông, nay thuộc xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, Quảng Nam. Ông là người có uy tín tại địa phương, từng tham gia phong trào Cần Vương và tiếp thu chủ thuyết Duy Tân của Phan Châu Trinh.
Từ 1905 đến 1908, ông tiến hành cải cách làng mình. Ông lập trường Tân Học dạy chữ Quốc ngữ tên là Trường Tân Xuân. Ông còn lập trường Dục Thanh dạy võ dân tộc cho thanh niên, nhằm mưu việc Quốc về sau. Trong thời gian này, Trần Huỳnh nhân danh Lí Trưởng cùng những người yêu nước đã xây dựng một lều chợ lớn (chợ Cây Cốc). Đây là lều chợ rộng lớn nhất Hà Đông lúc bấy giờ.
Từ năm 1912, các yếu nhân tại Quảng Nam tập trung quanh Thái Phiên vận động khởi nghĩa. Mục tiêu là đánh đổ thực dân Pháp, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, lập An Nam cộng hòa dân quốc. Phong trào lan rộng toàn Trung Kỳ, có cả vua Duy Tân tham gia. Quảng Nam là nơi phong trào phát triển mạnh nhất.
Cuối năm 1915, không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở Quảng Nam trở nên khẩn trương. Các hoạt động như lập đội nghĩa binh, lạc quyên tiền bạc, rèn sắm vũ khí được tăng cường. Phong trào phát triển mạnh ở hầu hết các tổng. Đặc biệt, tại Tổng Phước Lợi, Trần Huỳnh là nhân vật tham gia tích cực nhất.
Tháng 7/1915, Ban Chỉ huy khởi nghĩa Tổng Phước Lợi chính thức thành lập do Trần Huỳnh làm Tổng lãnh binh. Năm 1916, công việc tổ chức càng khẩn trương. Về lương thực, tài chính, Hội tổ chức các cuộc tập kích vào gia đình giàu có để tịch thu tiền lúa. Lúc này, Trần Huỳnh làm Phó Tổng, mượn đình làng làm kho chứa lúa dưới hình thức lúa của ông và chia cho người nghèo.
Mộ Tổng lãnh binh Trần Huỳnh, người lãnh đạo khởi nghĩa Duy Tân ở Tiên Thọ, Tiên Phước
Ngày 03/5/1916, gần 1000 dân binh tập trung về căn cứ Gò Chùa (Gò Đỏ). Lễ khao quân được tiến hành tại nhà Trần Huỳnh, mọi người uống rượu thề phục quốc. Sau đó, lễ tế cờ xuất quân diễn ra tại một đám ruộng cạn. Trần Huỳnh đọc tuyên cáo rồi hạ lệnh xuất quân. Đại quân do ông chỉ huy ào ạt tiến về phủ đường Tam Kỳ, giải thoát lính tập, thu ấn tín, thiêu hủy giấy tờ, hạ cờ giặc, treo cờ khởi nghĩa.
Nhận tin khởi nghĩa, công sứ Churks và Tổng đốc Từ Thiệp phái trung đội Âu Phi đàn áp. Trần Huỳnh cùng Trầm Tùng Lâm, Trần Khuê, Ngô Đốc và nhiều người khác bị giặc bắt đày ra nhà tù lao tỉnh. Trong lao, Trần Huỳnh vẫn khẳng khái nhận hết trách nhiệm, an ủi các bạn chiến đấu.
Ngày 27/05/1916, Tòa Nam Án Quảng Nam xử riêng những người phá phủ Tam Kỳ. Trần Huỳnh bị tuyên án đi đày biệt xứ Buôn Mê Thuột. Ngày 3/6/1916, ông bị xử chém tại Chợ Củi (Vĩnh Điện – Điện Bàn). Ông bước ra pháp trường với khí thế hiên ngang, hô vang “Giòng giống Hồng Lạc thiên thu, Việt Nam vạn tuế” trước lúc hy sinh.
Sau khi bị giặc giết, Trần Huỳnh được gia đình đưa về cải táng tại quê nhà. Mộ tọa lạc tại thôn 3, xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, Quảng Nam. Mộ nằm dưới một ngọn đồi tên là Đồi Dương, ngay sau chùa Thọ Quang. Mộ đã được ông Trần Ngọc Chương cùng gia tộc Trần Huỳnh xây lại vào tháng 6/1996. Phần mộ xây diện tích khoảng 42m2, phần đặt quan tài nhô cao 0.8m, dài 2m, rộng 1m.
Phía trên mộ là tượng bán thân của Trần Huỳnh đắp bằng đá, cao khoảng 0.5m. Phía sau là tấm bia lớn bằng xi măng có đính 4 chữ đá cẩm thạch “Vì nước hy sinh”. Phía trước là tấm văn bia khắc chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Hàng chữ giữa ghi “TRẦN HUỲNH TỔNG LÃNH BINH MỘT ĐẠO QUAN DUY TÂN KHỎI NGHĨA NĂM 1916”. Bao quanh mộ là bờ tường cao 0.5m, dài 6m, rộng 3.5m. Cổng vào mộ rộng 1m, hai trụ cổng cao 2.5m.
Những Trang Sử Vàng Chói Lọi Của Tiên Phước
Bên cạnh những di tích gắn liền với danh nhân, Tiên Phước còn là chứng nhân của nhiều trận chiến, cuộc đấu tranh ác liệt, khẳng định tinh thần quật cường của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến.
Vụ Thảm Sát Sơn – Cẩm – Hà: Tội Ác và Tinh Thần Đấu Tranh Bất Khuất
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Mỹ – Ngụy rắp tâm phá hoại hòa bình, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Chính quyền Ngô Đình Diệm lộ rõ bản chất bù nhìn, gây mâu thuẫn nội bộ và đàn áp cách mạng. Tại tỉnh Quảng Nam, bọn Quốc dân đảng ly khai, kéo về vùng núi Tiên Phước, Trà My, Quế Sơn lập căn cứ, chống Diệm và phá cách mạng. Khu vực Sơn – Cẩm – Hà là nơi chúng chọn để thực hiện âm mưu.
Tháng 2 năm 1955, bọn Quốc dân đảng tổ chức mít tinh tuyên bố ly khai chính quyền Ngô Đình Diệm. Chúng lập cái gọi là “chiến khu Nam Ngãi Bình Kỳ” tại thôn 3 xã Tiên Sơn, cử Nguyễn Đình Thiệp làm Tư lệnh. Âm mưu của chúng là chiếm cứ vùng Bắc Trà My nối liền Phước Sơn, xây dựng chiến khu dự bị.
Chúng thực hiện chính sách hai mặt: vừa kêu gọi cộng sản hợp tác chống Diệm, vừa bí mật bắt cóc, giết hại cán bộ, đảng viên và người cảm tình cách mạng. Mục đích là để thủ tiêu những người yêu nước. Tuy nhiên, chiêu bài “hợp tác” của chúng nhanh chóng bị thất bại.
Tại Sơn – Cẩm – Hà, cán bộ, đảng viên đã lãnh đạo quần chúng kiên quyết đấu tranh. Nhân dân bảo vệ cán bộ, đảng viên và những người yêu nước. Bộ mặt thật của bọn phản động, khát máu bị vạch trần. Chúng bắt đầu lùng sục, bắt cóc, thủ tiêu và giấu xác những người yêu nước.
Bọn chúng dùng nhiều hình thức tra tấn man rợ: uống máu, hiếp dâm, treo cổ, đập đầu, chôn sống. Sự khủng bố ngày càng trắng trợn. Chúng ngang nhiên bắt trói cán bộ, đảng viên, gây phẫn nộ trong nhân dân. Anh Phan Thệ và anh Lê Đức bị cắt cổ lấy huyết uống. Em Nguyễn Thị Thuận 14 tuổi bị hiếp dâm rồi chôn dưới rãnh sắn. Bà Quyền ở thôn 4 Tiên Cẩm bị đâm chết khi đang bồng con.
Đài tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát Sơn – Cẩm – Hà, chứng tích lịch sử bi thương tại Tiên Phước
Trước sự đàn áp dã man, nhân dân Sơn – Cẩm – Hà kề vai sát cánh đấu tranh trực diện. Nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt diễn ra. Tiêu biểu là trận quyết tử của nhân dân thôn 6, Tiên Sơn vào đêm mùng 5 tháng 5 âm lịch. Với vũ khí thô sơ như gậy, giáo mác, cuốc xỉa, tầm vông, nhân dân đã chống trả một Trung đội Quốc dân đảng có vũ trang. Trận chiến làm tên quận phó Nguyễn Cao Chung bỏ mạng, tên ác ôn Lê Nghinh bị bắt sống.
Sau một thời gian ly khai, bọn Quốc dân đảng suy yếu vì quá tàn ác, không thu phục được lòng dân. Chúng phải tính đến việc quy hàng chính quyền Ngô Đình Diệm. Trước khi ra hàng, chúng gây ra những vụ thảm sát man rợ. Chúng bắt 200 người chôn sống trong các hầm heo tại Đồng Trại, thôn 2 xã Tiên Cẩm, và 35 người chôn sống tại hầm heo Gò Vàng, thôn 4, Tiên Sơn.
Vào những ngày cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1955, bọn Quốc dân đảng lùng sục bắt người dân ở cả 3 xã Sơn – Cẩm – Hà. Lần này, chúng không cần khảo tra, xét hỏi, chỉ bắt và giết. Người bị bắt bị trói hai tay ra sau lưng, nằm ngoài hè, rồi bị kéo đến các hố đã đào sẵn. Từng lớp người bị đạp xuống hầm, kéo theo nhau, chồng chất lên nhau. Bọn Quốc dân đảng điên cuồng dùng đá nện và lấp đất lại.
Vụ thảm sát Sơn Cẩm Hà là sự kiện lịch sử bi thương, tố cáo tội ác tày trời của Mỹ – Diệm. Hơn 330 đồng bào bị chết và bị thương trong cuộc đấu tranh này. Kẻ địch muốn cướp xác phi tang tội ác, nhưng đồng bào ta cương quyết bảo vệ thi thể nạn nhân để tố cáo. Sau ba ngày, chúng mới có thể cưỡng bức chỏ tử thi và người bị thương đổ xuống các hầm trú ẩn. Chúng còn tìm kiếm, tàn sát người bị thương và thủ tiêu nhân chứng.
Từ cuộc đấu tranh này đã thổi bùng lên ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần không chịu khuất phục của nhân dân ta. Sáng ngày 27/9/2019, huyện Tiên Phước tổ chức trọng thể Lễ tưởng niệm 65 năm vụ thảm sát Cây Cốc và đón Bằng công nhận Di tích lịch sử quốc gia “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” do Bộ VH TT&DL trao tặng.
Khu Căn Cứ Tỉnh Ủy Quảng Nam và Công Binh Xưởng QB 150: Trái Tim Cách Mạng Vùng 5
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, xã Tiên Sơn, cùng các địa phương khác của huyện Tiên Phước, được Tỉnh ủy, Tỉnh đội và các cơ quan tỉnh Quảng Nam chọn làm nơi đứng chân chỉ đạo phong trào cách mạng. Khu căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam hình thành từ kháng chiến chống Pháp, có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng.
Nơi đây bao quát vùng đồng bằng rộng lớn ở phía Đông. Trong 9 năm chống Pháp, cùng với Tiên Cẩm, Tiên Hà, xã Tiên Sơn đã tạo thành chiến khu vững chắc. Tiếp đó, trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là căn cứ địa vững chắc của cách mạng khu 5. Chiến dịch giải phóng Sơn – Cẩm – Hà (25/9/1962) và cuộc chiến đấu chống chiến dịch Bình Châu, Dân Chiến (1963-1964) đã bảo vệ căn cứ địa cách mạng.
Từ đây, quân ta tiến công xuống giải phóng đồng bằng các huyện Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn và giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân năm 1975. Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích quốc gia theo Quyết định số 2106/QĐ-BVHTTDL ngày 8/7/2014.
Khu căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam trên đồi ông Giài, chiến lược quan trọng tại Tiên Sơn, Tiên Phước
Song hành với căn cứ quân sự, Công binh xưởng QB 150 khu V cũng đóng vai trò then chốt. Công binh xưởng Quân binh 150 khu V từng đóng ở 4 địa điểm trên địa bàn huyện Tiên Phước: từ 1947–1949 tại Hố Đá (thôn 01 xã Tiên Cảnh), năm 1949 chuyển ra Cà Táng (thôn 01) rồi đến Lộc Yên (thôn 04), năm 1950 chuyển đến Nà Lá (thôn 02 Tiên Cảnh) và hoạt động đến hết kháng chiến chống Pháp.
Tháng 3/1947, Pháp mở cuộc tiến công chiếm các huyện thị đồng bằng. Hàng vạn đồng bào tản cư lên Tiên Phước, biến nơi đây thành vùng tự do. Tiên Phước không chỉ cưu mang đồng bào mà còn là căn cứ địa của tỉnh, nơi đặt các trại sản xuất, công binh xưởng, xưởng giấy, hóa chất, bệnh viện quân y và dân y. Trong số đó, Công binh xưởng QB 150 có đóng góp to lớn cho chiến trường Liên khu V.
Những tháng đầu năm 1947, Công binh xưởng QB 150 chuyển về Hố Đá (thôn 01, Tiên Cảnh), là cơ sở Quốc phòng lớn với hơn 300 công nhân quân giới. Quản đốc là đồng chí Đỗ Kim Cẩn. Xưởng chuyên sản xuất lựu đạn đập, sửa chữa súng, chế tạo đạn súng trường Maz 36. Với địa thế hiểm trở, ba mặt giáp núi, xưởng được che chắn tốt, tránh được sự phát hiện, đánh phá của địch.
Năm 1949, để thuận tiện tập kết nguyên vật liệu và xuất xưởng vũ khí, Công binh xưởng QB 150 chuyển từ Hố Đá ra Cà Táng (thôn 01). Đồng chí Đỗ Kim Cẩn vẫn là Quản đốc. Tại đây, đồng chí Cẩn chế tạo máy dập chốt đạn, được tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Xưởng còn chế tạo đạn súng Canuasinua, Mouscaton. Đặc biệt, xưởng tận dụng phân Dơi từ Hang Dơi (Tiên An) để chế tạo thuốc nổ, hạn chế tối đa chi phí vận chuyển.
Do có nguy cơ bị bại lộ, Công binh xưởng chuyển đến địa điểm khác cũng ở làng Lộc Yên (thôn 04 Tiên Cảnh). Các nhà xưởng được làm ngầm dưới mặt đất để tránh máy bay địch. Nhưng không lâu sau, giặc Pháp theo chỉ điểm của Việt gian thả bom Napan, buộc xưởng phải chuyển đi nơi khác.
Năm 1950, xưởng chuyển đến Nà Lá (thôn 02 Tiên Cảnh), tiếp tục sản xuất vũ khí, đạn dược cho toàn chiến trường Quân khu V, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau Hiệp định Giơnevơ, Công binh xưởng QB 150 chuyển ra Bắc. Đây là xưởng công binh đầu tiên ở Liên khu V, vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp đạn dược, góp phần to lớn vào thắng lợi của quân và dân miền Trung trong kháng chiến chống Pháp.
Cổng vào khu di tích Công binh xưởng QB 150, nơi sản xuất vũ khí tại Tiên Cảnh, Tiên Phước
Chiến Thắng Núi Ngang: “Đỉnh Thép Kiên Cường” Giữa Lòng Kháng Chiến
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Mỹ – Ngụy rơi vào thế bị động. Chúng buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “tìm diệt và bình định” sang “quét giữ”. Trên địa bàn huyện Tiên Phước, địch mở nhiều cuộc hành quân quy mô nhằm lấn chiếm, giành đất, giành dân, mở rộng hành lang phòng thủ vào vùng căn cứ cách mạng.
Để thực hiện ý đồ này, Mỹ – Ngụy đổ quân và phương tiện chiến tranh xuống núi Ngang, biến nơi đây thành cao điểm chiến lược, chốt chặn bảo vệ Chi khu quân sự ở Quận lỵ Tiên Phước. Đầu tháng 4 năm 1968, quân Mỹ đưa 2 lữ đoàn 196 và 198 mở các cuộc hành quân vào vùng giải phóng phía Tây các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước.
Sau cuộc hành quân, Mỹ để lại 01 đại đội bộ binh, 01 đại đội pháo binh, 01 đại đội pháo 105 ly đóng quân trên núi Ngang. Ngoài ra, còn có hai đại đội bộ binh khác thường xuyên càn quét bên ngoài. Quân của lữ đoàn 196, lữ đoàn 198 ở các cứ điểm Liệt Kiểm, Cấm Dơi, Tuần Dưỡng, Núi Vú chi viện cho núi Ngang.
Trước tình hình địch ngày càng lấn chiếm ác liệt, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Khu V quyết định giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 31, Sư đoàn 2 dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Kích và Nguyễn Huy Chương, bằng mọi giá phải đánh và phá tan căn cứ quân sự Mỹ trên Núi Ngang.
Thời gian chuẩn bị khẩn trương. Cuối ngày 4/5/1968, phương án tác chiến cơ bản hoàn tất. Ta bố trí 09 chốt liên hoàn trên các đỉnh núi Hoắc, Đá Trắng, dốc Xoài, núi Lớn, Dương Bà Lệ, Dương Vông, Ông Giai, Dương Chân và Dương Cây Trâm. Đêm ngày 4/5/1968, lực lượng ta bí mật tập kích vào núi Ngang nhưng phải rút lui do bị địch nghi ngờ.
Sáng ngày 5/5/1968, lúc 09 giờ, theo lệnh của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3, tiểu đoàn 8 và 9 của ta bất ngờ dùng cối 82 và DKZ 75 bắn trực diện vào núi Ngang, phá hủy lô cốt và phương tiện chiến tranh của địch. Bị tập kích bất ngờ, quân Mỹ kêu cứu viện. Chúng dùng máy bay lên thẳng HU1A bắn phá dốc Xoài để kiềm chế hỏa lực ta.
Lực lượng ta vẫn kiên cường bám sát trận địa, bình tĩnh dùng súng bộ binh bắn rơi tại chỗ 02 máy bay. Điên cuồng, địch tiếp tục tổ chức nhiều đợt oanh kích. Chúng cho quân nhảy dù xuống thôn 3, thôn 5 xã Tiên Sơn tìm diệt quân chủ lực ta. 08 giờ 30, địch bắn phá núi Hoắc. Cùng lúc, một bộ phận quân Mỹ từ núi Ngang tràn xuống thôn 3 phối hợp với quân tiếp viện. 14 giờ cùng ngày, địch đổ thêm một đại đội Mỹ.
Trong 3 ngày liền, từ ngày 5/5 đến 8/5/1968, vùng trời và vùng đất quanh núi Ngang không ngớt tiếng bom, đạn và tiếng rú của máy bay Mỹ. Nhưng các cuộc tấn công của quân Mỹ vào các chốt đóng quân của bộ đội ta đều thất bại. Nhân dân Sơn – Cẩm – Hà dù chịu tổn thất vẫn kiên cường bám trụ, ngày đêm sát cánh cùng bộ đội tiếp tế lương thực, thuốc men, chăm sóc thương binh.
Bị thất bại nặng nề, Lữ đoàn 198 của Mỹ điều động 01 tiểu đoàn khác thay thế tiểu đoàn 1, tăng cường 01 đại đội pháo 105 ly. Cùng lúc, quân Mỹ mở nhiều cuộc tấn công quy mô hơn. Ngày 14/5, Mỹ cố đánh chiếm dốc Xoài. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, gây nhiều thương vong. Mỹ chiếm được một số công sự vòng ngoài. Với tinh thần “còn người, còn vũ khí, còn chiến đấu”, bộ đội ta chặn được các bước tiến công của địch, buộc chúng rút lui khi đêm xuống.
Tinh thần chiến đấu dũng cảm của Trung đoàn 31, của quân và dân Sơn – Cẩm – Hà được Đại hội Sư đoàn tháng 11/1968 ghi nhận và khen tặng danh hiệu “Đỉnh thép kiên cường, đánh giỏi thắng lớn”. Thắng lợi này đã góp phần giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Tiên Phước, một số xã của Thăng Bình, Quế Sơn, đưa dân trở về làng cũ. Chiến thắng Núi Ngang góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, tạo cục diện và thế chiến lược mới có lợi cho ta.
Chiến Thắng Tiên Phước – Phước Lâm: Bước Ngoặt Mở Màn Đại Thắng Mùa Xuân
Để phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, tháng 3-1975, Khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở chiến dịch Nam – Ngãi (10-3-1975 – 25-3-1975). Trận tiến công quận lỵ Tiên Phước – Phước Lâm và Suối Đá được xác định là trận then chốt của chiến dịch. Chỉ huy chiến dịch là Bộ tư lệnh tiền phương Quân khu 5, với đồng chí Nguyễn Chánh (Bình) làm Tư lệnh và đồng chí Đoàn Khuê làm Chính ủy.
Trận tiến công Tiên Phước – Phước Lâm – Suối Đá bắt đầu vào 04 giờ 30 phút ngày 10-3-1975 và kết thúc vào 16 giờ cùng ngày. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn 2 (4 trung đoàn 1, 31, 36, 38), Lữ đoàn 52, Trung đoàn pháo binh 368, Trung đoàn cao xạ 573. Ngoài ra còn có 10 xe tăng, xe bọc thép của Trung đoàn 574, Trung đoàn công binh 83 và 01 đại đội vệ binh của Quân khu. Lực lượng vũ trang ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà cùng phối hợp tác chiến.
Quân giải phóng làm chủ Chi khu quân sự Tiên Phước, chiến thắng lịch sử tại Quảng Nam
Sau một ngày chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ quận lỵ Tiên Phước – Phước Lâm và dãy điểm cao Suối Đá. Ta tiêu diệt 1.011 quân địch, bắt 991 tên, thu 779 súng các loại và giải phóng 20.000 dân. Thắng lợi của trận Tiên Phước – Phước Lâm – Suối Đá là chiến thắng đầu tiên của quân và dân Khu V trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Chiến thắng này để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ngày 13/8/2021, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho di tích chiến thắng Tiên Phước – Phước Lâm, khẳng định tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của trận đánh này.
Kết luận
Từ những cơ sở kinh tế bí mật mang tên Tạp Hoá Tuất Toà đến các di tích lịch sử, làng cổ, danh thắng thiên nhiên và những chiến công vang dội, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam tự hào là vùng đất giàu truyền thống cách mạng và văn hóa. Nơi đây không chỉ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích khám phá lịch sử, mà còn là minh chứng sống động cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân Việt Nam. Khám phá Tạp Hoá Tuất Toà, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam là hành trình trở về cội nguồn, nơi mỗi ngóc ngách đều kể một câu chuyện. Dựa trên dữ liệu từ Google Maps.
Ngày Cập Nhật: Tháng 10 23, 2025 by Ngô Hồng Thái