Chùa Từ Ân, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên: Khám Phá Di Sản Phật Giáo và Dấu Ấn Tổ Liễu Quán

5/5 - (99 bình chọn)

Chùa Từ Ân, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên: Khám Phá Di Sản Phật Giáo và Dấu Ấn Tổ Liễu Quán

Chùa Từ Ân, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên là một phần quan trọng trong bức tranh lịch sử Phật giáo phong phú của vùng đất Phú Yên. Nơi đây không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là minh chứng sống động cho sự phát triển của Thiền phái Lâm Tế, đặc biệt gắn liền với công đức của tổ Liễu Quán huyền thoại. Khám phá ngôi chùa này cùng các di tích liên quan sẽ hé mở những giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc và các chùa cổ ẩn chứa bao câu chuyện lịch sử tại vùng đất Tuy An.

Tổng Quan về Di Sản Phật Giáo tại An Nghiệp, Tuy An

Chỉ đường tới Chùa Viên Quang, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên
An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên, từ lâu đã là vùng đất mang đậm dấu ấn Phật giáo. Nhiều ngôi chùa cổ kính đã được hình thành và phát triển tại đây. Các di tích này không chỉ là nơi tu tập mà còn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hóa. Chúng thể hiện một phần quan trọng của bản sắc tâm linh địa phương.

Những ngôi chùa tại khu vực này thường có kiến trúc giản dị nhưng ẩn chứa vẻ đẹp thanh tịnh. Chúng phản ánh tinh thần Phật giáo Đại thừa đã ăn sâu vào đời sống người dân. Du khách đến đây có thể cảm nhận sự bình yên và tìm hiểu về lịch sử đạo Phật. Đây là một hành trình ý nghĩa đối với mọi tâm hồn.

Dấu Ấn Tổ Liễu Quán và Nguồn Gốc Thiền Phái Lâm Tế

Sự phát triển của Phật giáo tại Phú Yên, đặc biệt là ở Tuy An, không thể không nhắc đến công lao của Tổ Liễu Quán. Ngài là một trong những vị Thiền sư vĩ đại. Ngài có công lớn trong việc truyền bá và phát triển Thiền phái Lâm Tế tại miền Trung và miền Nam Việt Nam. Cuộc đời và đạo nghiệp của Ngài đã để lại dấu ấn sâu sắc.

Hành Trình Tu Đạo của Tổ Liễu Quán

Tổ Liễu Quán tên húy Thiệt Diệu, họ Lê. Ngài sinh năm Đinh Vị (1667) tại làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, nay thuộc thôn Trường Xuân, thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An, Phú Yên. Năm 6 tuổi, mẹ mất, Ngài được cha cho xuất gia tại Chùa Hội Tôn. Chùa này thuộc thôn Hội Tín, xã An Thạch, huyện Tuy An. Vị thầy đầu tiên của Ngài là Hòa thượng Tế Viên, một vị tăng người Trung Hoa.

Ngài tỏ ra thông minh vượt trội so với các chúng đồng tu. Sau 7 năm học đạo, Hòa thượng Tế Viên viên tịch. Năm Canh Thìn (1680), Ngài đến Huế. Ngài tiếp tục thọ học với Hòa thượng Giác Phong tại Chùa Hàm Long (nay là Chùa Báo Quốc). Năm Tân Mùi (1691), Ngài trở về Phú Yên phụng dưỡng cha già. Cuộc sống nghèo khó buộc Ngài phải hái củi kiếm tiền thuốc thang.

Cha Ngài qua đời năm Ất Hợi (1695). Sau khi lo hậu sự xong, Ngài trở lại Huế. Ngài thọ Sa di với Hòa thượng Thạch Liêm và thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Từ Lâm năm Đinh Sửu (1697). Từ năm Kỷ Mão (1699), Ngài bắt đầu hành trình tham vấn các thiền môn. Đến năm Nhâm Ngọ (1702), Ngài bái yết Hòa thượng Minh Hoằng Tử Dung tại Long Sơn. Đây là Tổ sáng lập Chùa Ấn Tôn (nay là Từ Đàm).

Ngài được Tổ Tử Dung trao công án: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xư” (Muôn pháp quy về một, một quy về đâu). Mặc dù chưa tìm ra giải đáp, Ngài vẫn trở về Phú Yên. Một hôm, nhân đọc “Truyền đăng lục” với câu “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ” (Chỉ vật truyền tâm, chỗ mà người ngoài không biết), Ngài bỗng nhiên khai ngộ. Vì cách trở địa lý, Ngài không thể trình thầy ngay.

Xem thêm  Bún Riêu Cô Lan - 59 Bà Triệu | Bún Riêu Gia Truyền Ngon Nhất Hà Nội

Mãi đến năm Mậu Tý (1708), Ngài đến Long Sơn cầu ấn chứng từ Hòa thượng Tử Dung. Tuy nhiên, Ngài chưa được ấn khả ngay. Hòa thượng Tử Dung còn đưa ra nhiều câu hỏi khác. Ngài quyết định đến núi Thiên Thai lập thảo am. Tại đây, Ngài chuyên tâm tham thiền nhập định. Thảo am này sau này trở thành Chùa Thuyền Tôn ở Huế.

Mùa Hạ năm Nhâm Thìn (1712), Ngài trình bài kệ “Dục Phật” lên Hòa thượng. Ngài đã trả lời thông suốt mọi câu hỏi. Tổ Minh Hoằng Tử Dung, đời thứ 34 phái Thiền Lâm Tế chính tông, chính thức truyền tâm ấn cho Ngài. Tổ Liễu Quán, đời thứ 35, đã tiếp nối và làm rạng rỡ dòng Thiền Lâm Tế tại Thuận Hóa, hình thành tông phái Tử Dung – Liễu Quán.

Sự Phát Triển của Thiền Phái Lâm Tế Tử Dung – Liễu Quán

Sau khi được ấn khả, Tổ Liễu Quán đã có công lớn trong việc hoằng truyền đạo pháp. Ngài đã phổ biến Thiền phái Lâm Tế khắp miền Trung và các tỉnh miền Nam. Dòng kệ 48 chữ do Ngài sáng lập, với câu đầu “Thiệt Tế Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng”, đã trở thành kim chỉ nam cho nhiều thế hệ đệ tử. Dòng kệ này tiếp tục được truyền thừa cho đến ngày nay.

Từ năm Nhâm Dần (1722), Ngài về Tổ đình Thuyền Tôn, Huế. Ngài đã mở nhiều đại giới đàn truyền giới cho cả cư sĩ, xuất gia và quan viên. Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) rất cảm phục đạo hạnh của Ngài. Chúa thường triệu Ngài vào cung, nhưng Ngài đều từ chối. Năm Nhâm Tuất (1742), Ngài chứng minh đại giới đàn tại chùa Viên Thông. Vào tháng 9 năm ấy, Ngài lâm bệnh.

Tháng 11 cùng năm, trước khi viên tịch, Ngài họp đệ tử. Ngài dạy rằng: “Nhơn duyên đã mãn, ta sắp tịch đây”. Ngài còn để lại bài kệ: “Thất thập niên dư thế giới trung / Không không sắc sắc diệc dung thông / Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý / Hà tất bôn man vấn tổ tông.” Bài kệ này dịch nghĩa là: “Ngoài bảy mươi năm trong thế giới / Không không sắc sắc thảy dung thông / Ngày nay nguyện mãn về quê cũ / Nào phải ân cần hỏi tổ tông.”

Ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1742), giờ Mùi, Tổ Liễu Quán viên tịch. Ngài hưởng thọ 76 tuổi đời, với 43 hạ lạp. Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) đã ban hiệu Đạo Hạnh, thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng. Gần ba tháng sau, vào ngày 19 tháng 2 năm Quý Hợi (1743), Ngài nhập tháp tại phía Nam núi Thiên Thai. Nơi này thuộc làng An Cựu, huyện Hương Trà, nay là thành phố Huế. Sự chậm trễ này có lẽ là để chờ đợi chư sơn từ Phú Yên, quê hương của Tổ, ra dự lễ.

Các Ngôi Chùa Cổ và Đệ Tử Đắc Pháp tại Phú Yên

Phú Yên là nơi chôn rau cắt rốn của Tổ Liễu Quán. Vùng đất này cũng là cái nôi sản sinh nhiều đệ tử đắc pháp của Ngài. Các đệ tử này đã có công khai sơn và trùng hưng nhiều ngôi chùa. Những ngôi chùa này vẫn tồn tại đến ngày nay. Chúng là những trung tâm Phật giáo quan trọng.

Chùa Hội Tôn và Chùa Cổ Lâm: Những Chứng Tích Lịch Sử

Chùa Hội Tôn là nơi Tổ Liễu Quán xuất gia. Ngày nay, dấu tích của ngôi chùa thế kỷ XVII này chỉ còn lại một ngôi tháp cổ. Ngôi tháp nằm cạnh nhà thờ Mằng Lăng, thuộc thôn Hội Tín, xã An Thạch, huyện Tuy An. Xung quanh tháp còn có nhiều ngôi mộ cổ. Chúng có kiểu cách và thời điểm xây dựng khác nhau. Có mộ dáng kiệu ngựa, búp sen, con rùa.

Đáng chú ý, có hai mộ tập thể. Theo giáo dân địa phương, đây là của tổ tiên họ bị giết hại trong thời “sát tả”. Các mộ này được cải táng về đây. Tháp và mộ của các giáo dân chen chúc nhau trên một diện tích hẹp. Vật liệu xây dựng gồm vôi, đá tổ ong hoặc gạch cũ. Khu vực từ Mằng Lăng đến Lò Gốm thôn Quảng Đức cũng có nhiều mộ kiểu dáng tương tự. Việc xác định chủ nhân các mộ này, dù là người Chăm, người Hoa hay người Việt, vẫn là vấn đề cần nghiên cứu.

Chùa Hội Tôn tồn tại một thời gian dài rồi dời đến chùa Cổ Lâm. Chùa Cổ Lâm được xây dựng trên lưng chừng núi Sơn Chà, cách địa điểm cũ khoảng 300m. Tương truyền, mộ tháp cũng được di dời. 10 ngôi tháp được xây lại nơi chùa mới. Bao gồm 7 tháp Hòa thượng và 3 tháp búp sen. Nay chỉ còn một tháp Hòa thượng nơi chùa cũ.

Xem thêm  Cầu Voi 2, Bình Thạnh, Thủ Thừa, Long An: Trung Tâm Đào Tạo Lái Xe Kỹ Thuật Giao Thông & Hướng Dẫn Di Chuyển Chi Tiết

Chùa Cổ Lâm hiện đã hoang phế. Di tích còn lại là những bức tường gạch đổ nát và móng, nền vỡ vụn. Biển thờ “Pháp vũ thọ” của Cổ Lâm được lưu giữ tại chùa Liên Trì cùng thôn Hội Tín. Theo lời kể của cháu thầy dòng Nguyễn Hữu Tài, dưới triều Nguyễn, một vị sư đã che giấu hai thầy truyền giáo. Họ đã thoát hiểm khi sắp bị sát hại. Sau này, chính họ đã hướng dẫn cải táng mộ giáo dân.

Những tháp ở Chùa Cổ Lâm có cùng thời điểm và mô hình xây dựng. Điều này chứng tỏ chúng được xây dựng cùng một lúc khi dời chùa. Mộ tháp không có bia ký. Trước đây, Thầy Khế Tâm đã gắn bia “Cổ Lâm đường thượng tứ thập thế” vào một ngôi tháp. Các tháp còn lại cần được tu sửa. Nhiều tháp đã nghiêng theo triền dốc. Tháp còn lại nơi Chùa Hội Tôn hơn 300 năm tuổi cũng cần được tìm hiểu thận trọng và chính xác. Đây là công việc của các nhà nghiên cứu nhiều lĩnh vực.

Dấu Chân Các Đệ Tử Tổ Liễu Quán Khai Sơn Chùa ở Phú Yên

Tổ Liễu Quán có 49 đệ tử xuất gia nổi tiếng và vô số đệ tử tại gia. Nhiều vị đã đóng góp to lớn vào việc phát triển Phật giáo ở Phú Yên. Họ đã khai sơn nhiều ngôi chùa. Các đệ tử này tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp của Tổ.

Tại Phú Yên, có khoảng 10 đệ tử kế thừa Tổ Liễu Quán đã khai sơn các chùa:

  • Tế Hẩu hiệu Khánh Liên Đại lão Hòa thượng. Ngài kế thừa Tổ khai sơn chùa Bảo Tịnh, húy Thiệt Diệu, hiệu Liễu Quán.
  • Tế Duyên khai sơn chùa Kim Cang hiệu Quảng Giác Hòa thượng. Chùa được thành lập từ thời Lê trung hưng. Vua đã ban sắc tứ vào năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Hựu (1739). Chùa còn giữ được độ điệp vua Minh Mạng cấp năm 1830.
  • Tế Dũng khai sơn chùa Bình Quang, phường 4, Thành phố Tuy Hòa.
  • Tế Căn (1702-1767) khai sơn chùa Hồ Sơn, hiệu Từ Chiếu Lão Tổ Hòa thượng. Chùa nằm trên ngọn đồi thuộc phường 9, thành phố Tuy Hòa.
  • Tế Khoán hiệu Trừng Hưng Hòa thượng. Ngài khai sơn chùa Dương Long, thôn Phú Ân, xã Hòa An, huyện Phú Hòa.
  • Tế Ngạn khai sơn chùa Long Sơn (chùa Bầu Đục), thôn An Nghiệp, xã Hòa Định, huyện Tuy Hòa (nay là huyện Phú Hòa). Ngài hiệu Thanh Tùng Hòa thượng.
  • Tế Thường hiệu An Dưỡng Hòa thượng. Ngài khai sơn chùa Vĩnh Xương, thôn Phú Lương, xã An Phú, huyện Tuy An.
  • Tế Đài hiệu Khánh Thụy Hòa thượng. Ngài khai sơn chùa Kim Long, phía Đông núi Nhạn, thuộc phường I, thành phố Tuy Hòa.
  • Tế Ý hiệu Hoằng Câu Hòa thượng. Ngài khai sơn chùa Long Sơn, thôn Phú Hòa, xã An Mỹ, huyện Tuy An. Tế Tín hiệu Pháp Vị Hòa thượng có long vị thờ ở chùa này.

Cùng thời với Tổ Liễu Quán, các thiền sư phái Lâm Tế đời thứ 35 khác cũng góp phần khai sáng nhiều chùa. Thiệt Lãm hiệu Chí Kiên Hòa thượng khai sáng chùa Bảo Sơn Thiên Hải ở Phú Ốc và chùa Thiên Hưng ở Hội Phú, xã An Ninh Đông, huyện Tuy An. Chùa Viên Quang ở An Nghiệp, huyện Tuy An, được Tổ khai sơn húy Phật Đạt hiệu Mặc Tùy. Chùa Châu Lâm, nguyên thủy là chùa Long Thủy ở làng Bạc Mã, nay là thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An, do Tổ kế thừa húy Phật Đoan (dòng kệ Đạo Mân) phái Lâm Tế đời thứ 35.

Chính vì thế, sự hiện diện của Chùa Từ Ân, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên cũng là một mảnh ghép quý giá. Ngôi chùa này đóng góp vào bức tranh toàn cảnh về di sản Phật giáo nơi đây. Nó thể hiện sự tiếp nối và phát triển của tinh thần đạo pháp.

Chùa Châu Lâm và Đền Thờ Tổ Liễu Quán: Trung Tâm Tâm Linh Quan Trọng

Chùa Châu Lâm tọa lạc ở phía Nam núi Aman. Nơi đây thuộc làng Ngân Sơn (trước là Bạc Má xã, Hạ tổng, huyện Đồng Xuân), nay là thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An. Chùa được thành lập cùng thời với Chùa Hội Tôn vào cuối thế kỷ XVII. Tổ kế thừa là Phật Đoan, phái Lâm Tế đời thứ 35, cùng thời với Tổ Liễu Quán.

Xem thêm  Cho Thuê Văn Phòng Tại Hà Nội - Propertyplus.Vn - Tòa Nhà 292 Tây Sơn, Đống Đa

Chùa nằm ở độ cao 10m so với mặt đất. Chùa có chánh điện, nhà đông và nhà tây. Đền thờ Tổ Liễu Quán được sư Khế Tâm xây dựng trên núi Aman. Đền nằm ở phía tây chùa, trên độ cao 20m. Ngôi đền được xây kiên cố với tầng lầu thờ tượng Tổ Liễu Quán. Tượng thể hiện tư thế ngồi trang nghiêm.

Tầng dưới của đền thờ Bia Tổ. Bia được chạm khắc bằng đá Non Nước, cao 1.2m, rộng 0,8m. Mặt trước khắc chữ Hán, theo bản chính của Pháp điệt Thiện Kế, chùa Tang Liên, tỉnh Phúc Kiến. Mặt sau là phần dịch tiếng Việt. Nó cũng ghi danh các đệ tử kế thừa đời thứ 36 ở Phú Yên.

Chùa Châu Lâm còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá. Nổi bật là tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng 2.000 cân, cao 1,5m. Ngoài ra, chùa còn có bia đá của 24 vị nữ đệ tử của Thiền sư Pháp Lâm. Các vị này đã hoằng hóa đạo pháp tại chùa Viên Thông ở Huế. Các đệ tử đã tưởng nhớ Tổ đường Châu Lâm bằng cách khắc bia. Họ cũng cúng dường đại hồng chung lưu niệm. Đại hồng chung này có sự chứng minh của các Hòa thượng. Đó là Hòa thượng các chùa sắc tứ Bảo Lâm, Từ Hiếu, Quốc Ân, Tường Vân ở Huế. Cùng với đó là các vị Hoàng thân và công chúa. Hòa thượng Quảng Đức với “Quả tim bất diệt” là pháp điệt của Thiền sư Hoằng Thâm. Ngài là đệ tử của Tổ kế thừa húy Chơn Kiâm, hiệu Pháp Lâm. Ngài thuộc phái Lâm Tế, đời thứ 40.

Ngày xưa, trước mặt Chùa Châu Lâm là cánh đồng rộng lớn. Vì vậy, chùa còn có tên gọi khác là Đồng Mạ. Trong những năm chiến tranh, chùa bị hư hại nặng nề. Tuy nhiên, các tượng Phật và khí mảnh thờ phượng trong chánh điện vẫn không hề bị hư hỏng. Châu Lâm ngày nay đã khang trang hơn. Nơi đây có Đền thờ và Bia Tổ Liễu Quán. Đây là một điểm đến tâm linh quan trọng.

Trải Nghiệm Văn Hóa và Du Lịch Tâm Linh tại An Nghiệp, Tuy An

An Nghiệp, Tuy An là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn tìm hiểu về văn hóa Phật giáo. Du khách có thể khám phá các ngôi chùa cổ và di tích lịch sử. Hành trình này mang lại trải nghiệm bình yên và sâu sắc. Đây là nơi để tìm hiểu về một phần hồn cốt của Phật giáo Việt Nam.

Để đến khu vực An Nghiệp, Tuy An, du khách có thể lựa chọn nhiều phương tiện. Từ thành phố Tuy Hòa, có thể đi ô tô hoặc xe máy theo Quốc lộ 1A. Thời gian di chuyển khoảng 30-45 phút tùy điểm đến cụ thể. Các tuyến xe buýt địa phương cũng kết nối các khu vực lân cận. Tuy nhiên, để linh hoạt khám phá nhiều địa điểm, ô tô hoặc xe máy cá nhân vẫn là lựa chọn tối ưu. Cần lưu ý về tình hình giao thông. Một số đoạn đường có thể đông đúc vào giờ cao điểm. Du khách nên tìm hiểu trước về các điểm đỗ xe. Thông tin này đặc biệt quan trọng nếu di chuyển bằng ô tô.

Nơi đây còn rất nhiều điều thú vị chờ đợi du khách khám phá. Truy cập hanoidep.vn để tìm hiểu thêm về các điểm đến văn hóa và tâm linh khác trên khắp Việt Nam. Chúng tôi cam kết mang đến những thông tin hữu ích và đáng tin cậy. Dựa trên dữ liệu từ Google Maps, chúng tôi cung cấp những hướng dẫn chi tiết nhất.

Chùa Từ Ân, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên, cùng với các ngôi chùa cổ kính khác trong khu vực, là biểu tượng của một di sản Phật giáo phong phú và bền vững. Nơi đây không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là bảo tàng sống động về lịch sử và văn hóa. Du khách đến An Nghiệp, Tuy An sẽ được đắm mình trong không gian thanh tịnh. Họ sẽ hiểu rõ hơn về những giá trị mà Tổ Liễu Quán và các thế hệ thiền sư đã dày công kiến tạo.

Ngày Cập Nhật: Tháng 11 25, 2025 by Ngô Hồng Thái

Avatar photo
Ngô Hồng Thái

Ngô Hồng Thái từng có hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành báo chí truyền thống. Chính nền tảng này đã rèn luyện cho anh một con mắt quan sát tinh tế, khả năng phát hiện những câu chuyện bình dị nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc sống. Anh không chỉ là một nhiếp ảnh gia bấm máy mà còn là một nhà báo kể chuyện bằng ngôn ngữ.

Bài viết: 27995

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *