![]()
Tạp Hóa Tình Xuân, Vùng 1, thôn Định Phong, An Nghiệp, Tuy Hòa, Phú Yên không chỉ là một điểm mua sắm quen thuộc của người dân địa phương mà còn là biểu tượng cho sự năng động của một vùng đất giàu truyền thống. Tọa lạc tại trái tim của An Nghiệp, Tuy Hòa, nơi đây đại diện cho nhịp sống thường nhật giữa lòng Phú Yên, một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đầy tiềm năng và bề dày lịch sử. Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về cửa hàng, đồng thời khám phá lịch sử phát triển của vùng đất Phú Yên, từ những ngày đầu khai hoang mở cõi đến hiện tại, giúp du khách và người dân hiểu rõ hơn về văn hóa và con người nơi đây.
![]()
Khám Phá Tạp Hóa Tình Xuân: Điểm Đến Thân Thiện Ở Tuy Hòa
Chỉ đường tới Tạp Hóa Tình Xuân, Vùng 1, thôn Định Phong, An Nghiệp, Tuy Hòa, Phú Yên: Nơi Giao Thoa Lịch Sử và Cuộc Sống Hiện Đại
Tọa lạc tại Vùng 1, thôn Định Phong, xã An Nghiệp, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Tạp Hóa Tình Xuân là một địa chỉ tiện lợi cho mọi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Cửa hàng này cung cấp đa dạng các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, từ thực phẩm, đồ uống đến vật dụng gia đình, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh. Sự hiện diện của Tạp Hóa Tình Xuân góp phần vào đời sống kinh tế địa phương sôi động. Dựa trên dữ liệu từ Google Maps, cửa hàng nhận được những đánh giá tích cực về sự thân thiện của chủ cửa hàng và sự đa dạng của sản phẩm.
Để đến Tạp Hóa Tình Xuân, du khách có thể lựa chọn nhiều phương tiện. Nếu di chuyển bằng ô tô hoặc xe máy, từ trung tâm thành phố Tuy Hòa, bạn chỉ mất khoảng 15-20 phút tùy theo tình hình giao thông. Có thể đi theo các tuyến đường chính hướng về phía An Nghiệp. Với xe buýt, có các tuyến chạy qua khu vực lân cận, nhưng có thể cần đi bộ thêm một đoạn ngắn. Đối với những ai muốn trải nghiệm nhịp sống thôn Định Phong, đi bộ hoặc xe đạp là lựa chọn lý tưởng, cho phép bạn thưởng thức cảnh quan làng quê thanh bình. Khu vực này thường không quá đông đúc, ít khi gặp tình trạng kẹt xe nghiêm trọng.
![]()
Phú Yên: Dấu Ấn Lịch Sử Từ Thế Kỷ 17
Vùng đất Phú Yên, ngày nay bao gồm cả thôn Định Phong, An Nghiệp, Tuy Hòa nơi Tạp Hóa Tình Xuân tọa lạc, đã được định danh từ năm 1611. Qua gần bốn thế kỷ, danh xưng này được giữ vững, trải qua các thời kỳ là Phủ, Dinh, Trấn, Đạo và cuối cùng là Tỉnh từ năm 1899. Lịch sử Phú Yên bắt đầu từ năm 1471 dưới triều Lê Thánh Tông. Sau trận thắng Chà Bàn, biên giới Đại Việt mở rộng đến núi Đá Bia. Vùng đất này bao gồm ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn.
Khu vực từ đèo Cù Mông đến đèo Cả vẫn được để dân tự trị. Đến năm 1578, Chúa Tiên – Nguyễn Hoàng phái Lương Văn Chánh chiêu mộ lưu dân, đưa họ đến Cù Mông, Bà Đài, Đà Rằng để khai hoang lập nghiệp. Lương Văn Chánh, một vị quan miền biên viễn thời Lê, đã theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Ông được coi là vị tiền hiền có công lớn trong việc khai hoang, lập ấp, biến vùng đất này thành nơi trù phú, đặt nền móng cho sự phát triển của Phú Yên sau này.
Năm 1611, nhận thấy sự phát triển mạnh mẽ của vùng đất mới, Nguyễn Hoàng lệnh cho chủ sự Văn Phong lập phủ Phú Yên. Phủ này bao gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, với lý do dẹp yên các cuộc xâm lấn biên cảnh của dân bản địa. Phủ Phú Yên thuộc dinh Quảng Nam, và Văn Phong được bổ nhiệm làm lưu thủ cai trị. Từ đó, nhiều địa danh thuần Việt như Phú Yên, Đồng Xuân, Tuy Hòa ra đời. Một số địa danh Chăm như Cù Mông được giữ nguyên, hay Bà Đài, Đà Rằng được Việt hóa thành Xuân Đài, Đà Diễn, trở thành các tục danh quen thuộc.
Lương Văn Chánh không chỉ hướng dẫn lưu dân khai hoang, phát triển công thương nghiệp. Ông còn chú trọng quy tụ dân chúng thành làng mạc. Điều này nhằm phát triển tình nghĩa xóm ấp theo tinh thần văn hiến dân tộc. Các triều đại xưa quan niệm rằng, chỉ khi có đất rộng để sinh sống và dân cư biết lễ nghĩa, triều đình mới thành lập phủ huyện. Từ đó, vùng đất này có thể hòa nhập bình quyền vào cộng đồng quốc gia.
Phú Yên Giai Đoạn 1611 – 1771: Mở Rộng Biên Cương
Năm 1611, sau khi dẹp yên cuộc xâm lấn của người Chiêm, chúa Nguyễn đã sáp nhập vùng đất từ núi Cù Mông đến Thạch Bi vào lãnh thổ Đại Việt. Phủ Phú Yên được thành lập, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, dưới quyền cai trị của lưu thủ Văn Phong. Đến năm 1629, Văn Phong làm phản. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cử Nguyễn Phúc Vinh dẹp loạn và mở rộng lãnh thổ đến Bình Khang (Khánh Hòa ngày nay). Ông được phong làm lưu thủ dinh Trấn Biên, một đơn vị hành chính cấp tỉnh quản lý phủ Phú Yên.
Năm 1653, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, vua Chiêm Thành Bà Tấm đem quân xâm lấn Phú Yên. Chúa đã cử Cai Cơ Hùng Lộc và Minh Võ chỉ huy 3.000 quân đi đánh. Quân chúa Nguyễn vượt đèo Hổ Dương, tiến thẳng vào thành địch, buộc Bà Tấm phải bỏ chạy. Quân Nguyễn tiến đến sông Phan Rang, và Bà Tấm sai con là Xác Bà xin hàng. Chúa Nguyễn chấp thuận và sáp nhập vùng đất mới, lập thành Dinh Thái Khang (sau này là Bình Khương, Ninh Hòa) và Diên Minh (Diên Khánh). Vai trò trấn biên của Phú Yên từ đó kết thúc.
Năm 1726, chúa cử Ký Lục Nguyễn Đăng Đệ tuần xét các phủ xứ Quảng Nam để định rõ chức lệ cho các thuộc mới. Thời kỳ này, Phú Yên có đến 38 thuộc, nhiều hơn so với các phủ khác. Điều này cho thấy sự phát triển nhanh chóng của vùng đất. Tháng 4-1758, Nguyễn Khoa Trực được bổ nhiệm trấn thủ phủ Phú Yên, đốc thu thuế. Mặc dù là đất mới khai thác, Phú Yên đã có quan cai trị, nhưng thuế má vẫn còn rộng rãi so với các phủ khác. Đây là chính sách của nhà Nguyễn để thu hút nguồn lực. Mục tiêu là đẩy nhanh công cuộc khẩn hoang và xác lập vững chắc chủ quyền.
Phú Yên Thời Tây Sơn (1771 – 1802): Biến Động Khốc Liệt
Năm 1771, anh em Tây Sơn khởi binh tại Tây Sơn Thượng và Tây Sơn Hạ. Sau khi tập hợp và huấn luyện quân sĩ, tháng 8-1773, quân Tây Sơn hạ thành Quy Nhơn. Trên đà thắng lợi, quân Tây Sơn tiếp tục tiến chiếm các phủ Quảng Nam, Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận, trong đó có Phú Yên. Đến tháng 5-1775, tướng nhà Nguyễn phản công đánh Phú Yên. Trước tình thế bất lợi, Nguyễn Nhạc hòa hoãn với tướng Chúa Trịnh. Ông rút quân về Quy Nhơn để củng cố lực lượng, đối phó với quân Chúa Nguyễn ở phía Nam.
Năm 1775, kỵ binh do Nguyễn Quang Sáng, Lương Văn Trực và chúa Thủy Xá Ma Khương chỉ huy. Họ cùng thủy quân của Lưu Quốc Hùng, Trần Văn Nhâm hợp thành lực lượng Tây Sơn hữu đạo. 2.000 quân dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn đánh úp quân Tống Phước Hiệp tại Phú Yên. Tống Phước Hiệp đại bại. Chúa Nguyễn điều quân cứu nguy nhưng đều thất bại. Lúc bấy giờ, Chu Văn Tiếp đóng quân ở Quy Nhơn. Ông rút vào huyện Đồng Xuân, chiếm vùng Chà Rang (Trà Rang) thuộc thôn Phú Phong, xã An Hiệp, lập đại bản doanh. Dù nhiều đợt xuất quân, Chu Văn Tiếp đều thất bại.
Đến năm 1782, nghe tin thành Gia Định thất thủ, Chu Văn Tiếp rời Phú Yên. Ông đưa quân vào Nam, hợp cùng các đạo quân Chúa Nguyễn đánh Tây Sơn, lấy lại Gia Định. Từ đó, đất Phú Yên hoàn toàn thuộc về Tây Sơn. Năm 1793, Chúa Nguyễn đem quân ra đánh thành Quy Nhơn bằng cả đường thủy và đường bộ. Tôn Thất Hội đi đường bộ qua Bình Thuận, Khánh Hòa và đánh vào Phú Yên. Tham đốc Tây Sơn Phạm Văn Điền thua chạy. Chúa Nguyễn đặt quan chức tại Phú Yên, cử phó tướng thủy binh Nguyễn Văn Nhâm làm lưu thủ.
Giai đoạn 1794 – 1800, cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Chúa Nguyễn trên mảnh đất Phú Yên diễn ra quyết liệt. Quyền kiểm soát vùng đất này liên tục thay đổi. Mãi đến năm 1801, Phú Yên hoàn toàn thuộc về Chúa Nguyễn. Vùng đất này được đặt làm doanh Phú Yên, có công đường và quan cai trị. Cũng trong năm 1801, Chúa Nguyễn bãi bỏ sưu ruộng ở Phú Yên. Chính sách này nhằm thu phục lòng dân ở vùng đất mới chiếm được.
Phú Yên Từ 1802-1885: Phát Triển và Đối Mặt Xâm Lược
Năm 1802, sau khi chiếm thành Phú Xuân và thống nhất đất nước, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu Gia Long. Năm 1803, vua ban hành các quy định về thuế tô dung, sửa sang đường sá, phát triển nông-ngư-thương nghiệp. Nhà vua cũng chú trọng mở mang văn hóa, đặt thêm chức Đốc học. Mỗi phủ có một giáo thụ chánh thất phẩm, mỗi huyện có một Huấn đạo chánh bát phẩm để dạy học sinh.
Năm 1853, tỉnh Phú Yên được đổi thành Đạo để tinh giản bộ máy quan lại. Lỵ sở vẫn đặt tại tỉnh thành cũ. Mỗi đạo có một Quảng đạo tòng tứ phẩm. Viên Quản đạo Phú Yên kiêm lý hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Đạo Phú Yên được gắn với tên Bình Định ở phía trước. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tại cửa Đà Nẵng, mở màn cuộc xâm lược Việt Nam. Tình hình chính trị, xã hội miền Trung, bao gồm Phú Yên, chuyển biến nhanh chóng. Đây là thời kỳ của phong trào chống chủ nghĩa thực dân xâm lược.
Tháng 2-1861, Đề đốc Tôn Thất Đính dẫn 2.000 quân, gồm lính kinh thành và lính các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa, đến Biên Hòa phòng thủ đánh Pháp. Tháng 9-1861, triều đình nhà Nguyễn miễn thuế nhập cảng cho thuyền nước Thanh đến Phú Yên. Điều này là để tri ân việc họ đã nộp súng lớn và súng đang dùng cho triều đình. Vua Tự Đức cử Đổng Xuất Nguyễn Tri Phương đi xem xét các đoạn đường dọc núi Xuân Đài (Phú Yên) và Đại Lãnh (Khánh Hòa). Đây là những nơi sát biển, đường núi lở nhiều chỗ, gây khó khăn cho việc lưu thông. Cần đổi sang con đường khác để tiện việc công văn.
Tháng 4-1865, triều đình Huế lập Nha doanh điều, mộ dân từ Quảng Ngãi, Quảng Nam đưa vào. Họ được chia đất ở, cấp trâu cày và dụng cụ làm ruộng. Mục tiêu là khẩn hoang và lập thôn xã mới ở Phú Yên. Năm 1866, triều đình Huế cấp ấn “khâm phái quan phòng” cho Phan Trung Đổ. Ông đưa dân mộ nghĩa Nam Kỳ đang ở các đồn điền Bình Thuận ra Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định để khai khẩn đất hoang.
Phong Trào Đấu Tranh Chống Thực Dân Cuối Thế Kỷ 19 Đầu Thế Kỷ 20
Phú Yên, nơi Tạp Hóa Tình Xuân ngày nay là một phần của cộng đồng, từng là cái nôi của nhiều phong trào đấu tranh yêu nước.
Phong Trào Cần Vương: Khởi Nghĩa của Lê Thành Phương
Tháng 6-1885, quân Pháp tấn công kinh thành Huế. Cuộc phản công của quân ta thất bại. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở, sau đó dời ra Tuyên Hóa, lập trung tâm kháng chiến. Ngày 13-7-1885, vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân chống Pháp. Hưởng ứng lời kêu gọi, ngày 13-8-1885, Lê Thành Phương cùng sĩ phu khởi nghĩa tại núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Ông được tôn làm thống soái, phiên chế nghĩa quân thành các đội.
Cơ quan chỉ huy tối cao được đặt tại núi Chóp Vung, phía tây làng Phong Phú. Con trai ông, Lê Thành Bính, giữ chức Hữu tham quân, đóng đồn tại Long Cấm. Phó soái Bùi Giảng chỉ huy phân khu Bắc (từ đèo Cù Mông đến Tam Giang), đóng đại đồn tại núi Hòn Đôn (Định Trung). Tham tán quân vụ Nguyễn Hào Sự đóng đại binh tại tổng binh, dựa vào dãy núi La Hiên. Võ Thiệp đóng quân tại đồn Bình Tây, Nguyễn Sách đóng quân tại đồn Vân Hòa. Nghĩa quân chia nhau đóng nhiều vị trí từ đèo Cả đến đèo Cù Mông, từ miền biển đến miền núi, tạo thế nương tựa lẫn nhau.
Phong trào Cần Vương dưới sự chỉ huy của Lê Thành Phương ở Phú Yên đã giành được nhiều thắng lợi. Nhiều trận đánh lớn khiến quân Pháp phải bỏ đồn bốt chạy tán loạn. Tiêu biểu là trận đánh phối hợp ngày 14-12-1885. Hai đội quân của Bùi Giảng và Lê Thành Bính tấn công thành Diên Khánh, đánh đổ chính quyền thực dân Pháp ở Khánh Hòa. Đầu năm 1886, Lê Thành Phương điều động quân về lại Phú Yên. Họ phối hợp với các đạo quân tại chỗ đánh thành An Thổ, tỉnh lỵ Phú Yên, đập tan cứ điểm lớn nhất này. Sau đó, nghĩa quân tiến đánh huyện thành Tuy Hòa, buộc tri phủ phải chạy trốn.
Tuy nhiên, sau gần hai năm khởi nghĩa, quân của Lê Thành Phương không thể đánh thắng quân Pháp với vũ khí hiện đại và đội quân tinh nhuệ. Ngày 13-2-1887, ông bị bắt, giam tại Hàng Dao (nay thuộc thôn Hội Tín, xã An Thạch). Giặc dùng lời ngon ngọt dụ dỗ nhưng ông kiên quyết nói: “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”. Sau nhiều ngày dụ dỗ không thành, ngày 20-2-1887, tại bến đò Cây Dừa, thuộc phường Lụa, phủ Tuy An, người anh hùng ái quốc Lê Thành Phương hy sinh dưới lưỡi gươm của quân thù, ở tuổi 62.
Cuộc Khởi Nghĩa Của Võ Trứ Và Trần Cao Vân
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương, phong trào chống Pháp của nhân dân Phú Yên tiếp tục bùng nổ. Năm 1892 chứng kiến cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân. Võ Trứ, quê làng Nhơn Ân, Bình Định, sau di cư vào La Hai, Đồng Xuân, Phú Yên. Ông là một nông dân có học, giàu lòng yêu nước. Dù Pháp đã thiết lập nền thống trị, ông vẫn nuôi hy vọng đánh đuổi quân Pháp. Cùng với Trần Cao Vân, ông tập hợp lực lượng kháng chiến.
Năm 1898, dưới lá cờ đề “Minh Trai chủ tế”, Võ Trứ cưỡi ngựa chỉ huy đạo quân từ rừng Đồng Xuân tiến xuống tỉnh lỵ Sông Cầu. Vũ khí chủ yếu là giáo, mác, rựa và bùa hộ mệnh. Kế hoạch là vây trại lính, đoạt súng đạn, sau đó chiếm các dinh sở của chính phủ bảo hộ và nam triều. Dọc đường, dân chúng gia nhập ngày càng đông. Tuy nhiên, kế hoạch đã bị mật thám Pháp phát hiện. Quân Pháp chặn đường hành quân, vây đánh quân của Võ Trứ gần dốc Quýt (cách Sông Cầu 4km).
Sau đó, quân Pháp tập trung đốt nhà, bắn giết dã man đồng bào các xã gần căn cứ. Trước cảnh dân tình chết chóc, Võ Trứ quyết định tự nộp mình cho giặc. Quân xâm lược yêu cầu ông cùng nhân dân đầu hàng và hợp tác, nhưng ông không chịu. Chúng đã chém và treo đầu ông ở cầu Tam Giang. Ngay cả Pháp cũng kiêng nể gọi ông là “vua người Thượng”. Cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ được người Pháp gọi là “giặc rựa” hay “giặc thầy chùa”.
Phong Trào Chống Xâu Thuế Và Săm Brăm
Ở Trung kỳ, phong trào “xin xâu” hay Duy Tân bắt đầu từ Quảng Nam (tháng 3-1908), lan rộng đến Quảng Ngãi, Bình Định, và Phú Yên. Tại Phú Yên, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hữu Dục và Lê Hanh, phong trào chống sưu cao thuế nặng, cường hào, đồi phong bại tục bùng lên mạnh mẽ. Họ cổ động dùng hàng nội hóa, mở trường dạy chữ quốc ngữ. Các đoàn biểu tình có lúc lên đến gần 2000 người, kéo đến các phủ Tuy Hòa, Tuy An rồi ra đến tỉnh lỵ Sông Cầu, gây bối rối cho quan lại và quân Pháp.
Những năm 1930, khắp vùng núi rừng Trường Sơn dấy lên phong trào chống thực dân Pháp quy mô lớn, với sự tham gia của nhiều tộc người và nhiều tỉnh. Phú Yên là trung tâm của phong trào Săm Brăm, còn gọi là “Xu đỏ” hoặc “Lấy nước phép đánh Tây”. Săm Brăm là người có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, được dân làng suy tôn làm người đứng đầu. Tinh thần yêu nước chống Pháp của ông cũng được mọi người kính nể.
Sau năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phong trào yêu nước nổ ra mạnh mẽ. Thực dân Pháp tăng cường khủng bố và bóc lột tài nguyên. Ở miền núi Phú Yên, chúng làm đường số 7 (nay là quốc lộ 25) từ Tuy Hòa đi Cheo Reo, mở đồn điền Vân Hòa, bắt nhân dân nộp sưu, đi phu, làm xâu. Pháp còn lập nhiều đồn bót, trại giam và nhà tù. Tại trại giam Trà Kê, gần quê hương Săm Brăm, giam giữ nhiều nhà cách mạng. Săm Brăm, được các chiến sĩ động viên, hăng hái hoạt động, khởi xướng phong trào đấu tranh chống Pháp trong đồng bào dân tộc thiểu số. Thực dân Pháp đàn áp, bắt ông giam ở đồn Trà Kê, đày lên Buôn Ma Thuột, sau đó ra Sông Cầu và cuối cùng là trại giam Thanh Hóa.
Tổ Chức Yêu Nước Và Cách Mạng Trước Năm 1945
Khu vực Tạp Hóa Tình Xuân hiện diện ngày nay nằm trong dòng chảy lịch sử đầy biến động của Phú Yên, nơi các phong trào yêu nước và cách mạng đã nảy nở và phát triển mạnh mẽ.
Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên
So với các tỉnh miền Bắc, hoạt động của chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Phú Yên không đồng đều. Tuy nhiên, trong khu vực Nam Trung bộ, Hội ở Phú Yên hoạt động khá tốt. Do ảnh hưởng từ phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh ở Huế và Qui Nhơn, nhiều học sinh Phú Yên bị đuổi học. Khi về quê, những thanh niên này đọc sách báo tiến bộ như Nhành Lúa, Tiếng Dân. Họ tuyên truyền tư tưởng yêu nước, bàn cách tập hợp lực lượng, hưởng ứng đường lối đấu tranh của Hội.
Tháng 6-1928, chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên chính thức ra đời tại Sông Cầu. Năm 1929, do một số đồng chí chuyển đi, chi bộ ở Sông Cầu giải thể. Mùa hè năm 1929, chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên thành lập tại Tuy Hòa. Hội hoạt động dưới hình thức hợp pháp là các Hưng Nghiệp hội xã, tuyên truyền tôn chỉ mục đích và phát triển hội viên. Giữa năm 1929, cơ sở Hội ở Quảng Trị bị vỡ. Điều này khiến địch phát hiện hoạt động của Hội ở Phú Yên. Cuối năm 1929, Hưng Nghiệp hội xã ở Tuy Hòa bị niêm phong. Các lãnh đạo như Phan Thanh, Trần Chương bị bắt, tổ chức hội tan rã.
Tân Việt Cách Mạng Đảng
Cuối năm 1927, thầy giáo Phạm Đức Bân cùng các thầy giáo Bùi Dung, Trịnh Bá Đài. Cùng với một số thanh niên học sinh, họ vận động xây dựng tổ chức Tân Việt tại Sông Cầu. Tài liệu tuyên truyền lúc này là các sách nhỏ của nhà xuất bản Quan Hải Tùng Thư, báo Trần Chung (Chuông thần), Tiếng Dân. Cùng với đó là những bài văn thơ yêu nước của cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, và báo An Nam. Tổ chức Tân Việt trở thành ngọn cờ cách mạng của Phú Yên lúc bấy giờ, quy tụ nhiều tâm huyết yêu nước.
Thành Lập Chi Bộ Đảng Cộng Sản
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức thành lập. Cuối năm 1929, đồng chí Phan Lưu Thanh, thành viên Hưng Nghiệp hội xã ở La Hai, vào Sài Gòn học lái xe. Tại đây, ông được các đảng viên Cộng sản (công nhân xưởng Ba Son) giác ngộ cách mạng. Sau đó, ông được giao nhiệm vụ về Phú Yên xây dựng cơ sở. Ông tổ chức các hoạt động kêu gọi thợ thuyền, dân cày, binh lính nổi dậy chống bất công, cải thiện cuộc sống. Ông cũng kêu gọi đoàn kết với vô sản thế giới chống đế quốc và phong kiến.
Qua hoạt động thực tế, tháng 8-1930, Phan Lưu Thanh được kết nạp vào Đảng Cộng sản tại chi bộ Thị Nghè (Sài Gòn). Sau đó, ông được cử về La Hai (Phú Yên). Tại đây, qua liên lạc và móc nối, ông tập hợp được một số thanh niên tiến bộ và kết nạp họ vào Đảng. Trên cơ sở đó, ngày 5-10-1930, tại thôn Đồng Bé, xã Xuân Long (Đồng Xuân), đồng chí Phan Lưu Thanh tổ chức Hội nghị đảng viên. Hội nghị này tuyên bố thành lập chi bộ Đảng Cộng sản tại Phú Yên. Tiếp theo, nhiều chi bộ Đảng khác cũng được thành lập ở huyện Đồng Xuân và Tuy An.
Cách Mạng Tháng 8-1945 Và Kháng Chiến Chống Pháp (1945 – 1954)
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp thi hành chính sách phát xít, giải tán Đảng Cộng sản. Ở Đông Dương, Pháp đàn áp Đảng Cộng sản, ban hành chính sách động viên thời chiến. Tại Phú Yên, Pháp bắt nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng, kết án tù. Ngày 26-6-1940, chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. Ngày 9-3-1945, thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật. Ngày 8-2-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước lãnh đạo cách mạng. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh được thành lập, chuẩn bị tổng khởi nghĩa.
Ở Phú Yên, tháng 6-1945 thành lập Tỉnh ủy lâm thời. Ngày 17-7-1945, tổ chức Việt Minh tỉnh được thành lập, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Ngày 15-8-1945, Nhật Hoàng đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Phong trào nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong nước và ở Phú Yên rất sôi nổi. Ngày 23-8-1945, Tỉnh ủy lâm thời và Việt Minh nhận lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy. Đêm 23-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh phát lệnh. Đến ngày 26-8-1945, Phú Yên hoàn thành khởi nghĩa, giành chính quyền toàn tỉnh, thành lập chính quyền cách mạng.
Trong lúc Đảng bộ và nhân dân Phú Yên cùng cả nước xây dựng chính quyền, khắc phục hậu quả chiến tranh. Thực dân Pháp, được quân Anh giúp đỡ, gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phú Yên vừa xây dựng chính quyền, vừa phát động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống. Đồng thời phát động phong trào toàn dân đánh giặc, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Từ năm 1953 – 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp lên đến đỉnh điểm. Ở Phú Yên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, quân dân Phú Yên cùng Liên khu V đánh bại cuộc hành quân Át-Lăng. Họ phối hợp cùng cả nước kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954.
Kháng Chiến Chống Mỹ – Thống Nhất Tổ Quốc (1954 – 1975)
Thắng lợi kháng chiến chống Pháp mở ra giai đoạn mới cho cách mạng Việt Nam. Miền Bắc giải phóng, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mục tiêu là đánh đuổi đế quốc Mỹ và tay sai, thống nhất đất nước. Qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Phú Yên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, đã lập nhiều chiến công vang dội. Họ góp phần cùng cả nước kết thúc chiến tranh chống Mỹ, thống nhất đất nước bằng Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (30-4-1975).
Phong trào Đồng khởi 1959 – 1960, tiêu biểu là Đồng khởi Hòa Thịnh 22-12-1960, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Nổi bật là phá “Ấp chiến lược” (1964 – 1965). Phú Yên đánh thắng chiến lược chiến tranh cục bộ. Tiêu biểu là đánh bại cuộc phản công lần thứ nhất 1966 với hành quân “Van-bua-rem” và lần thứ hai năm 1967. Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc và đàm phán tại Paris.
Thất bại Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ buộc phải “phi Mỹ hóa”, thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 chứng kiến chiến thắng đường số 5. Quân dân Phú Yên làm chủ hoàn toàn đoạn đường số 5 trong 5 ngày (19-25/3/1975). Chiến thắng này kết thúc số phận rút lui chiến lược của địch. Với khí thế thừa thắng, 5 giờ sáng 1-4-1975, trận tiến công quyết định giải phóng thị xã Tuy Hòa và toàn tỉnh Phú Yên bắt đầu. Đến 11 giờ cùng ngày, quân và dân Phú Yên tan rã toàn bộ lực lượng địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh.
Phú Yên Trong Công Cuộc Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
Sau ngày giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Phú Yên ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh. Họ đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Tỉnh củng cố hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Phú Yên không ngừng trưởng thành trên mọi lĩnh vực.
Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, có sự quan tâm đúng mức đến các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng nhận được sự hỗ trợ cần thiết. Hệ thống tổ chức chính trị các cấp hoạt động hiệu quả, ngày càng vững mạnh.
hanoidep.vn nhận thấy, các cấp chính quyền đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cải tiến lề lối làm việc, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý điều hành của chính quyền. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tinh thần đại đoàn kết toàn dân không ngừng củng cố. Nền Quốc phòng toàn dân và An ninh nhân dân ngày càng vững mạnh, theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Văn hóa, giáo dục, y tế được đầu tư và phát triển không ngừng. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa, xã hội hóa giáo dục thu hút đông đảo nhân dân. Các phong trào này góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh nhà. Dựa trên dữ liệu từ Google Maps, Phú Yên ngày càng phát triển, thu hút đầu tư và du lịch.
Kết Luận
Từ những trang sử hào hùng đến nhịp sống hiện đại, Phú Yên luôn giữ vững bản sắc riêng. Tạp Hóa Tình Xuân, Vùng 1, thôn Định Phong, An Nghiệp, Tuy Hòa, Phú Yên là một minh chứng sống động cho sự hòa quyện giữa truyền thống và sự phát triển. Nơi đây không chỉ cung cấp những nhu yếu phẩm thiết yếu mà còn góp phần tạo nên một cộng đồng gắn kết, năng động. Khám phá Phú Yên, từ những cửa hàng nhỏ bé đến những di tích lịch sử, là hành trình tìm về cội nguồn và chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của một vùng đất đầy tiềm năng.
Ngày Cập Nhật: Tháng 10 4, 2025 by Ngô Hồng Thái